.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Friday, May 4, 2012

THỊ TRƯỜNG SÁCH VN: CẢ NĂM KHÔNG ĐỌC NỔI CUỐN SÁCH, TRI THỨC Ở ĐÂU?


– “Mọi người cứ trông chờ một ngày nào đó nước ta sẽ đạt được tầm cao mới, vị thế mới, mà bản thân mình cứ bé tí như thế này, thì sẽ không có đâu!” – ông Nguyễn Cảnh Bình trả lời.

Không thiếu những cuốn sách quý chở tư tưởng hiện đại và tư duy mới về Việt Nam, được dịch thuật một cách kì công. Nhưng câu chuyện về vỏn vẹn 500 bản in cho mỗi đầu sách quý này, tính trên số lượng 88 triệu dân – tức là chỉ có xấp xỉ 0,00057% dân số tiếp cận - quả là một con số giật mình.
Sau khi thực hiện bài viết Ở Việt Nam, sách Nobel thua xa “Xin lỗi em chỉ là…”, phóng viên VietNamNet tiếp tục cuộc trò chuyện sâu thêm với ông Nguyễn Cảnh Bình về văn hóa đọc và người đọc Việt nam.

Để đánh giá tri thức của một quốc gia?
 
-    Cái gì đang đắt ở Việt Nam?
Chắc là ô tô, bất động sản (cười).  Bạn và tôi, 2 người đều có thu nhập 10 triệu/tháng, nhưng trình độ khác nhau, giá trị mang lại cho xã hội khác nhau. Một công ty bất động sản doanh thu 100 tỉ, một công ty xuất bản cũng doanh thu 100 tỉ - nhưng giá trị cốt lõi, giá trị đóng góp sẽ khác nhau.

-    Anh đánh giá như thế nào về "giá trị gia tăng" của sách tạo ra được cho con người?
Để đánh giá sự giàu có của một quốc gia, người ta dùng GPD, dùng thu nhập bình quân theo đầu người; nhưng để đánh giá tri thức của một quốc gia, thì phải bằng chính nền xuất bản của họ và nền giáo dục của họ.

-    Như vậy không so GDP nữa, chỉ so về ngành xuất bản với các nước khác, thì ta đang ở đâu?
Kém xa. Kém kinh khủng. Không thể so với Nhật Bản, Hàn Quốc…Chỉ so với Thái Lan, Indonexia, Malaysia thì chúng ta cũng đã kém họ nhiều. Tôi không lượng hóa được chính xác, chừng 20% - 50%. 

-    Còn khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ?
(Cười lớn) Chẳng nên so sánh với Tây Âu. Bởi vì trình độ dân trí và con người họ khác, không phải chỉ vì đọc sách. Họ đã có cả một nền tảng, bề dày tri thức lâu đời.
Tôi có phân tích về lịch sử của một quốc gia. Xét về lịch sử của một quốc gia không phải từ khi con người được sinh ra trên mảnh đất ấy như thế nào, mà là lịch sử tri thức của dân tộc ấy. Lịch sử tri thức Việt Nam phải được đo lường cụ thể từ việc 90% người dân biết chữ, hoặc bằng số sách mình xuất bản. 

Nhiều quốc gia trên thế giới, lịch sử tri thức này có từ hàng nghìn năm. Châu Âu phải có đến 2000 năm lịch sử phát triển tri thức. Nước Mỹ - mặc dù thành lập được hơn 200 năm - nhưng lịch sử tri thức của họ là 2000 năm, vì ai cũng biết tầng lớp trí thức của Mỹ có gốc gác từ châu Âu.

Người Việt đọc chưa đến 1 cuốn sách/năm

-    Ông Nguyễn Mạnh Hùng, GĐ Thaihabooks có nói chuyện với tôi: Hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm - trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm (*)?
Tôi cho rằng con số này tương đối đúng, có khi không được như vậy.

-    Con số này ở thế giới như thế nào?
Chúng ta so với nước nào? Gần gũi nhất là Thái Lan, nếu tôi nhớ không nhầm con số này rơi vào khoảng 5 cuốn/1 người/1năm - không tính sách giáo khoa. Gấp khoảng gần 10 lần.
-    Như vậy thực ra chúng ta đang ở một xuất phát điểm rất thấp về tri thức. Sách có thể cung cấp một bước nhảy nào đó?
Bạn nói đúng về phương cách. Tôi ủng hộ và khuyến khích mọi người làm theo cách này. Việc đầu tư vào sách là một trong những đầu tư khôn ngoan - đương nhiên, phụ thuộc vào việc bạn chọn sách gì.
Lấy ví dụ từ chính tôi. Tôi cho rằng mình đã đầu tư khôn ngoan. Tôi không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc giành điểm cao ở trường. Tôi đầu tư vào những cuốn sách có giá trị, và đó cũng là giáo dục, đầu tư vào con người, đầu tư cho chính mình.

-    Việc đầu tư này có giúp ta rút ngắn khoảng cách với top đầu?
Tôi đồng ý nên dùng khái niệm rút ngắn khoảng cách hơn là đi tắt đón đầu. Đầu tư vào sách giúp ta trưởng thành nhanh. Nhưng chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận là khoảng cách đó  không dễ rút ngắn. Để mà mỗi người sẽ cố gắng nhiều hơn nữa.
Nếu ta đã đi sau Mỹ khoảng 100 năm tri thức, thì ta sẽ cố gắng làm thế nào đọc sách, học tập để rút ngắn dần khoảng cách này, đừng muộn hơn, chậm hơn nữa. Ngược lại,  chúng ta sẽ  ngày càng chậm, khoảng cách càng ngày càng dãn ra.

-    Như vậy là bên cạnh phân hóa giàu nghèo, còn có sự phân hóa về tri thức?
Đúng vậy! Và sự phân hóa tri thức mới thực là kinh khủng! Chỉ có nước Mỹ mới sinh ra những tỉ phú như Bill Gates, Steve Jobs... - những người sống bằng khoa học, trí tuệ.  Và chỉ ở môi trường đó mới giúp những người có phát minh, sáng kiến có thể giàu có được. Họ chính là những người đang làm ra sản phẩm và hàng hóa hỗ trợ con người. Ở Việt Nam thì không thể có chuyện như vậy.
Nên cụm từ "knowledge is power", cũng như việc tri thức được đánh giá cao, chỉ đúng ở những môi trường như thế. Càng ngày khoảng cách của ta với họ càng lệch xa. Sự khác biệt về tri thức vô cùng lớn.
Tôi hiện đang làm một cuốn sách về Alexander Hamilton - Bộ trưởng Ngân khố đầu tiên của Mỹ khi ông ấy mới 32 tuổi, cách đây đã 220 năm, sống ở thế kỉ 18. Nhưng đến giờ đọc lại, tôi thấy tư duy mình kém xa ông ta, mặc dù bây giờ tôi 40 tuổi, sống ở thế kỉ 21.

Thịnh vượng tri thức: Nhờ giới bình dân

-    Ở Việt Nam, chúng ta có những cuốn sách tốt nhất được mua về dịch không?
Tôi cho là chúng ta đã mua được những cuốn sách tốt nhất. Chúng ta có những cuốn cực kì giá trị trong Tủ sách tinh hoa, những cuốn kinh điển của Platon, Aristotle; về văn học có “Trăm năm cô đơn”, “Bố già”..., về cấu trúc xã hội có “Tinh thần pháp luật”, “Bàn về khế ước xã hội” của Montesquieu, có “Bàn về tự do” của John Stuart Mill…

-    Chúng ta có thể lĩnh hội được bao nhiêu?
Sự lĩnh hội phải được đo lường bằng số lượng đủ lớn trong dân số của cả một đất nước. Chỉ một vài cá nhân lĩnh hội thì không có ý nghĩa gì cả.
Giả dụ trong một dòng họ có 100 người, phải có 10 người đỗ đại học, 10 người học tiến sĩ chẳng hạn - thì mới có giá trị nào đó; chứ không thể chỉ 1 người tốt nghiệp cấp 3 cáng đáng cho cả một dòng họ.
Chúng ta phải đạt đủ số lượng. Nếu muốn đám đông lĩnh hội được thì 1 cuốn sách hay phải đạt xuất bản được 100 ngàn bản chẳng hạn.

-    Đằng này, số lượng 500 cuốn, 1000 cuốn quả là đáng buồn. Anh kì vọng tầng lớp nào sẽ đọc những cuốn sách như thế?
200 năm trước, sự phát triển của nước Mỹ vượt trội so với Châu Âu là nhờ chính giới bình dân, chứ không phải giới tinh hoa. Khi nước Mỹ lập quốc, đánh đuổi đế quốc Anh, giới tinh hoa của Mỹ khi đó không bằng giới tinh hoa của Châu Âu. Cái hay ở Mỹ là tri thức sách vở, kiến thức của mọi người được lan tỏa đến số đông hơn là chỉ một nhóm người ở Châu Âu. Đó là kết luận rút ra của J.E. Fischer và nhiều người nữa, chứ không phải của tôi.

Giá sách ở VN sẽ rẻ đi rất nhiều nếu có thêm người đọc sách. Tôi từng viết một bài nhan đề "Sự thiệt thòi của một nền dân trí thấp". Nếu như nền dân trí đủ lớn - 10.000 người mua sách thay vì 1.000 người như hiện nay - giá sách sẽ rẻ hơn rất nhiều lần.
- Xin cảm ơn anh!
Tại sao người Việt ít đọc sách?

Tôi khẳng định là lỗi của người lớn. Bao gồm nhà trường, gia đình, lãnh đạo và giới truyền thông. Ở Việt Nam ta chưa hề có một trường hay thậm chí một lớp nào dạy đọc sách, mà chỉ dạy đánh vần.  Tôi đang hướng dẫn mọi người đọc sách siêu tốc. Tốc độ đọc của người Việt là 200 - 240 từ/1phút (tức 1 phút đọc được khoảng 1 trang). Quá chậm! Tốc độ của tôi là 1000 từ/1 phút, tương đương với 4 trang sách. Trẻ con bây giờ chỉ đọc truyện tranh, ít đọc truyện chữ. Người lớn cũng không thích đọc cái gì nhiều chữ, ngại đọc những cuốn sách dày, vì đọc chậm. Nếu cả tháng mới xong 1 cuốn sách thì nản lắm.
Tri thức là tài sản duy nhất mà khi cho đi ta không mất đi, thậm chí lại được thêm. Bán cả đời đi tiêu không hết. Không ai lấy của ta được! Thế mà trên  80% tri thức đến từ mắt. Mọi người phải đọc. Nhất định phải đọc. Không còn sự lựa chọn nào khác!

(*) Hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm - trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm – sách giải trí còn đang chiếm tỉ trọng lớn trong con số 0,7  này.
-  Nguyễn Mạnh Hùng, GĐ Thái Hà Books

Hồ Hương Giang (thực hiện)

LOẠN THỊ TRƯỜNG SÁCH: Ở VN, SÁCH NOBEL THUA XA “XIN LỖI EM CHỈ LÀ…”

Câu chuyện của giải Nobel văn chương 2010, của sách bestsellers 70 tuần trên New York Times, của tác giả Stephen Hawking đang thất bại thê thảm trước “Xin lỗi em chỉ là…”, “Sợi xích”, hay 1001 thể loại blog yêu đương ở VN… là một câu chuyện 100% có thật mà ai cũng có thể kiểm chứng; với tỉ lệ phát hành, tiêu thụ chênh lệch tới hàng trăm lần.

Những đầu sách có hàm lượng tri thức lớn, có tư tưởng tiến bộ quý giá, không có nghĩa là sẽ được người Việt đón nhận hồ hởi, thậm chí còn bị ghẻ lạnh.
Phóng viên VietNamNet đã có cuộc trò chuyện với đại diện của 3 đơn vị xuất bản khá tiêu biểu khu vực miền Bắc: PGĐ Nhã Nam - Vũ Hoàng Giang -  sách văn học, GĐ Alpha Books - Nguyễn Cảnh Bình – sách kinh doanh, và GĐ Thaihabooks – Nguyễn Mạnh Hùng – sách đạo Phật, kinh doanh và giáo dục vị thành niên.

Thị trường đang tràn ngập dòng “sến Tàu”

- Mảng sách nào đang chiếm thị phần lớn nhất trong lựa chọn của người mua sách hiện nay?

Nguyễn Mạnh Hùng: Theo thống kê của VN, mảng sách văn học đang bán chạy nhất, nhưng chúng tôi lại xuất bản ít nhất. Ở mảng này tôi chỉ đọc những bộ lớn, kinh điển như Chiến tranh hòa bình, sông Đông êm đềm, Cuốn theo chiều gió, Chuông nguyện hồn ai....

Bây giờ các bạn trẻ VN đang thích đọc sách blog, sách văn học mạng. Những cuốn có liên quan đến tình dục, sex, giường chiếu, những cái nhí nhảnh, những cuốn giật gân, có tên sốc chẳng hạn - tôi không tiện nêu tên... được tiêu thụ mạnh. Nhiều NXB ra loại sách này, đánh đúng vào tâm lý tò mò nên bán rất chạy, dễ có lợi nhuận
Vũ Hoàng Giang: Thị trường giờ tràn ngập dòng "sến Tàu". Chúng tôi làm sách văn học, riêng các đầu sách tạm gọi là hàn lâm, cao cấp một chút như các đầu đoạt giải Nobel, giải Goncourt rất khó bán. Khi xuất bản “Trò chuyện trong quán La Catedral” – Nobel 2010 của Mario Vargas Llosa.... chúng tôi biết chắc sẽ lỗ, nhưng biết đó là những cuốn có giá trị về mặt văn chương nên vẫn làm. Còn dòng giải trí lãng mạn thì vẫn bán khá tốt.

Nguyễn Cảnh Bình: Đúng vậy, sách văn học hiện vẫn là mảng sách chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường hiện nay. Nhu cầu đọc sách giải trí của độc giả vẫn cao hơn nhu cầu đọc sách để nâng cao tri thức, hoàn thiện bản thân mình.

- Nhóm độc giả nào đang mua dạng sách này nhiều nhất?

Nguyễn Mạnh Hùng: Trước đây tôi tưởng người lớn mua sách nhiều nhất nhưng không phải. Tuổi mới lớn mua sách nhiều nhất.
Những em tò mò mua sách càng nhiều. Cuốn sách có câu chuyện cực kì xúc động, cực kì lãng mạn, miêu tả cảnh 2 người yêu nhau mùi mẫn, khóc sướt mướt, cảnh giường chiếu.... chắc chắn sẽ bán được.

- Các anh nghĩ gì về những cuốn sách “hot” theo kiểu này?

Nguyễn Mạnh Hùng: Có nhiều cuốn sách có vấn đề mặt chất lượng, nội dung, cả về tính giáo dục nữa. Tuy nhiên không thể có chế tài hạn chế loại sách này, vì nó không kích dục, không vi phạm thuần phong mĩ tục, không vi phạm luật xuất bản. Nó chỉ đánh vào cái tò mò với thứ riêng tư.

Tôi cho rằng "Bạn là cái bạn nhìn, bạn đọc, bạn nghe". Ngày nào cũng xem phim sex thì đi hiếp dâm. Ngày nào cũng xem cảnh giết người thì đi giết người lúc nào không biết. Ngay báo chí cũng thế, những tin "hot" nhất toàn tin "cướp, giết, hiếp". Nhiều NXB bây giờ cũng làm sách như vậy, bán rất chạy. Nhưng như thế là phản giáo dục.
Chúng ta cần những con người có trách nhiệm để chọn sách giúp bạn đọc. Tôi không hiểu người ta xuất bản cuốn "Sợi xích" để làm gì. Xuất bản xong người ta đua nhau mua, càng cấm lại càng mua tợn. Nếu cứ đọc "Sợi xích" hàng ngày, chắc chắn tỉ lệ hiếp dâm sẽ rất cao, tỉ lệ sinh hoạt tình dục ở tuổi vị thành niên cũng rất cao, vì người ta dễ học theo.

Nguyễn Cảnh Bình: Do nhu cầu của thị trường, nên loại sách này chắc chắn vẫn sẽ nở rộ trong thời gian tới, do có cầu ắt sẽ có cung. Chúng ta cũng không thể kêu gọi lương tâm của các công ty đơn vị làm sách, vì mỗi đơn vị có những định hướng xuất bản, kinh doanh khác nhau.  Tôi cho rằng điều chúng ta có thể làm để hạn chế sự ảnh hưởng của loại sách này với độc giả, nhất là các độc giả trẻ là tăng cường các hoạt động bằng cách này hay cách khác, giúp họ nhận ra được giá trị của những cuốn sách tốt  so với loại sách này, để có những điều chỉnh tốt cho bản thân.

Muốn làm giầu, đừng làm sách"


- Lợi nhuận có vai trò như thế nào, đối với những người mà tôi tạm gọi là “cố gắng theo đuổi xuất bản chân chính”?

Nguyễn Mạnh Hùng: Tôi khuyên những ai muốn làm giàu nhanh chóng, muốn kiếm tiền một cách ăn xổi thì đừng làm sách. Sách là văn hóa, giáo dục, thông tin, truyền thông, tư tưởng ... ; nếu làm bậy bạ là giết chết một thế hệ. Ngành XB là một ngành đặc biệt, cần những con người có trách nhiệm và một tư duy mới.

Nguyễn Cảnh Bình: Khi bước chân vào ngành sách, tôi không quan tâm và không hiểu gì về lợi nhuận. Làm một thời gian, tôi công nhận lợi nhuận của ngành kinh doanh sách là thấp. Nhưng nhìn từ góc độ cá nhân, tôi cho rằng đó là tại mình làm chưa giỏi.
Mọi người thường nói tại thị trường, tại người đọc ít - chỉ tập trung ở thành phố, tại vì cạnh tranh sách lậu ... nhưng tại sao không nhìn thấy rằng đó là tại mình chưa giỏi? Mình chưa ra được sách đúng với nhu cầu, thị hiếu của độc giả. Nếu giỏi thì lúc nào cũng làm được Trăng Non, Chạng Vạng, Harry Potter, NK Đặng Thùy Trâm ...vv. Lợi nhuận chẳng hề thấp nếu chúng ta làm việc tích cực hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn; quyết định của chúng ta chính xác hơn.

Sách quý ngắc ngoải ở Việt Nam

- Các anh có những đầu sách lý tưởng của mình, những đầu sách mà các anh khát khao được xuất bản chúng tại VN?

Nguyễn Cảnh Bình: Có, chúng tôi có những đầu sách như thế.

Vũ Hoàng Giang: Điều quan trọng là bạn đọc ở VN tiếp nhận như thế nào. Ví dụ, không phải những cuốn bestseller ở nước ngoài cứ mang về VN xuất bản là bán chạy. 

 
- Có trường hợp các anh đánh giá cuốn này là tốt nhưng rồi lại bán không tốt không? Các anh có thất vọng?
Nguyễn Cảnh Bình: Có, nhưng không nhiều. Thường những quyển sách tôi cho rằng tốt - ở góc độ cá nhân mình thấy nó hay, có ý nghĩa - thì tôi đã biết trước là ít người đọc. Ngược lại, những quyển đại chúng thích đọc thì tôi lại không thích đọc. Tôi cho rằng điều đó cũng đúng với thực tế, nên không thất vọng.

Nhưng đôi khi trong đánh giá có sự lệch nhau một chút, mình kì vọng nó bán được 5.000 bản, nhưng chỉ bán được 3.000 chẳng hạn.

Vũ Hoàng Giang: Với sách của Nhã Nam, có khá nhiều cuốn chúng tôi cũng đặt kỳ vọng nhưng con số phát hành thì không như mong muốn. Ví dụ như “Chìa khóa vũ trụ của George”“Kẻ giấu mặt ngoài hành tinh” – 2 cuốn truyện phiêu lưu khoa học giành cho trẻ em của  nhà vật lý lý thuyết và vũ trụ học nổi tiếng thế giới Stephen Hawking viết cùng con gái về đề tài vũ trụ. Về nội dung có rất nhiều thông tin bổ ích, lý thú và hấp dẫn. Về hình thức sách đẹp, được đầu tư in ấn trên những tiêu chuẩn cao. Hay như cuốn “Vũ trụ” của Carl Sagan, bestseller 70 tuần trên danh mục sách bán chạy của tờ New York Times, đã bán được hơn 5 triệu bản trên toàn thế giới… Nhưng những đầu sách nói trên từ khi xuất bản thì số sách được tiêu thụ không như chúng tôi kỳ vọng. Và đây cũng chỉ là một số ví dụ trong sách của Nhã Nam.

- Những cuốn đó tiền mua bản quyền và dịch thuật có đắt hơn không?

Vũ Hoàng Giang: Có cao hơn và không phải ai cũng dịch được những tác phẩm như vậy. Hiện nay có rất ít dịch giả có thể sống được bằng tiền dịch sách. Hầu hết họ đều có nghề tay trái. Dịch một cuốn sách khó xong có khi phải nghỉ cả năm trời...

Như vậy là những dòng sách cao cấp, giàu tri thức một chút, dù là tiểu thuyết hay phi tiểu thuyết, đều khó bán?

Vũ Hoàng Giang: Tôi không dám khẳng định tất cả. Nhưng bạn có thể đứng nửa tiếng ở khu phố sách Nguyễn Xí, Đinh Lễ (Hà Nội), sẽ thấy ngay người ta mua sách gì nhiều nhất.

- Đúng là ở khu vực bán sách chính, bày trước mặt người bán hàng chủ yếu là sách giải trí. Tại sao nhận thấy điều này mà các anh vẫn làm dòng "khó bán"?

Vũ Hoàng Giang: Đơn giản là vì giá trị của chúng. Chúng tôi cũng có những dòng sách thị trường để công ty có thể tồn tại. Nhưng tồn tại là để đưa ra những đầu sách có giá trị. Thương hiệu Nhã Nam có được là từ những dòng sách "khó bán" kia, chứ không phải từ dòng sách thị trường. Có những nhà đầu tư có thể kinh doanh bất cứ mặt hàng gì, miễn là có lợi nhuận. Nhưng làm sách thì không hẳn như vậy.

Nguyễn Cảnh Bình:  Lý do vẫn quyết định làm sách khó bán của Alpha Books cũng giống như Nhã Nam vậy. Ngay từ những ngày thành lập công ty, chúng tôi đã xác định sứ mệnh của mình là cầu nối truyền tải trí thức tiên tiến của thế giới cho người Việt. Tri thức của con người luôn phát triển không ngừng. Mảng kinh doanh cũng vậy. Nếu không xuất bản những cuốn sách chưa đựng tri thức mới, thì làm sao người Việt có thể 
- Bản thân các anh đang tìm cách thích ứng thị trường, hay đi theo cách mình muốn?

Vũ Hoàng Giang: Đã kinh doanh thì phải thích ứng với thị trường. Làm xuất bản, không phải lúc nào chúng tôi cũng được làm những gì mình thích, những gì mình nghĩ là hay. Để làm được những công việc thực sự có ý nghĩa, thì phải sống đã.

Nguyễn Cảnh Bình: Tôi nghĩ là tôi đang thích ứng với thị trường. Thị trường không bao giờ đứng yên, những quyển sách ngày hôm nay hay, chưa chắc ngày mai đã hay. Doanh nghiệp cũng phải thay đổi. Cách đơn giản nhất là nhập vào thị trường, nhưng có cách thứ 2 - đón đầu thị trường. Cả 2 sẽ gặp nhau ở một điểm nào đó. Bởi nếu không gặp được thị trường, doanh nghiệp sẽ phá sản.  Tôi cũng hy vọng việc xuất bản những cuốn sách khó bán của Alpha Books như đã nói ở trên có thể là cách thứ 2, vì xã hội, môi trường kinh doanh của chúng ta cũng đang phát triển đó thôi.

“Mong thị trường phân bổ đồng tiền lành mạnh”

- Cái mà anh mong muốn ở thị trường là gì, bên cạnh nỗ lực bản thân?

Nguyễn Cảnh Bình: Đối với bên ngoài, tôi kì vọng một thị trường lành mạnh hơn, một môi trường sống lành mạnh hơn, một xã hội lành mạnh hơn. Mọi người sẽ có cơ hội và điều kiện trong việc tiếp cận nguồn tri thức.
Lẽ ra ngành kinh doanh sách, hoặc ngành giáo dục sẽ thịnh vượng hơn nếu như 1 tỉ đồng Việt Nam được chia một cách tương đối đều cho một nhóm 10 người chẳng hạn. Nhưng hiện nay đến 900 triệu lại rơi vào túi một người - người này cũng không đọc sách, không mua sách, không quan tâm giáo dục. Ông ta mua ô tô, bất động sản, gì đó khác cơ ....

- Ý anh là một môi trường trong sạch hơn thì sự phân bổ tiêu dùng sẽ khác?

Nguyễn Cảnh Bình: Đúng rồi. Chính xác là như vậy! Cũng giống như việc học tập của các em học sinh bây giờ, sẽ khác đi, sẽ tốt hơn nếu như xã hội đòi hỏi những bằng cấp có giá trị thực sự, một tầng lớp tri thức có trình độ.
Ngành sách muốn phát triển được thì nền dân trí phải cao lên, thu nhập phải được chia đều cho mọi người. Bây giờ tôi khuyên các em là phải đọc sách về quản trị kinh doanh, nhưng lại được trả lời "Em thấy nhiều người có đọc sách đâu mà họ vẫn giàu", như thế thì...

- Như vậy thì điều gì sẽ quyết định việc chi tiêu cho sách chứ?

Nguyễn Mạnh Hùng: Có một câu chuyện thế này. Trước đây tôi thường đi dạy về kĩ năng, kiến thức, nhưng rồi tôi phát hiện ra điều đó vô nghĩa. Bạn có thể biết kiến thức về trồng rau; nhưng chưa chắc đã trồng rau ngon... Tôi bắt đầu đi dạy về cách thức - cách làm thật. Ai làm được thật thì hướng dẫn người khác làm, hay hơn kiến thức chay phải không? Nhưng 5 năm trở lại đây, tôi phát hiện ra mình dạy cách thức cũng không trúng nốt.

Quan trọng hơn nữa chính là nhận thức. Bạn phải nhận thức ăn sáng là quan trọng thì mới ăn sáng. Chứ biết nấu ăn ngon cũng chưa chắc đã ăn sáng, học xong để đấy thôi. Như vậy, phải nhận thức sách là quan trọng thì mới đọc sách. Và chọn đọc sách gì.

Nguyễn Cảnh Bình: Tôi cho rằng khủng hoảng kinh tế có khi lại là cơ hội khiến người ta phải quay về những giá trị cốt lõi. Sách và tri thức là những thứ có giá trị lõi cao nhất.
Cảm ơn các anh!

Hồ Hương Giang
(thực hiện)
Nguồn: Việt Nam Nét

ĐÔI ĐIỀU VỀ CHỮ VIỆT CỔ

Từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định, người Việt xưa đã có chữ viết: Trước năm 1945 nhà khoa học Tiệp Khắc, Cesmir Louklca trong tác phẩm Lịch sự chữ viết thế giới đã viết: “Phía Nam đế quốc Trung Hoa, trong vùng Đông Dương hiện nay, có nhà nước An Nam ngay từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đã bị người Hán thống trị. Chữ Trung Quốc do viên Thái thú Sĩ Nhiếp du nhập vào đây trước công nguyên.
Trước đó hình như người An-nam đã đọc bằng chữ ghi âm riêng, chữ đó không còn lại đến ngày nay”. Nhà nghiên cứu Terrien de la Couperie viết trong tạp chí Hàn lâm của Hoàng gia Anh, xuất bản năm 1887, đã cho rằng: “Sĩ Nhiếp bắt buộc người Việt học chữ Hán và cấm dùng chữ tượng thanh của mình”… Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu từ Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký… cho đến Lê Trọng Khánh, Hà Văn Tấn, Đỗ Văn Xuyền ... đều khẳng định: người Lạc Việt xưa đã có chữ viết riêng. Năm 2010 giáo sư Lê Trọng Khánh đã xuất bản cuốn: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu”- NXB Từ điển bách khoa. Một số nhà nghiên cứu khác cũng đăng tải một số bài viết và hứa hẹn sẽ công bố công trình hoàn chỉnh về chữ Việt cổ đem lại niềm tin và hy vọng cho bao người yêu văn hoá dân tộc.
Các nhà nghiên cứu đi sâu vào khai thác các ký hiệu, ký tự trên đồ đồng Đông Sơn: lưỡi cày đồng, rìu đồng, trống đồng, khai thác các ký hiệu và chữ viết trên đá cổ Sa Pa (Lào Cai), ngoài ra còn khảo sát ngôn ngữ ở các vùng miền, sự tiến hóa trong những văn bản từ xưa đến nay…
Công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh đã chỉ ra, người Lạc Việt xưa có chữ viết. Theo giáo sư:“Qua các hiện vật khảo cổ được phát hiện ở nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam.
Hệ thống chữ viết ấy xác định quá trình ra đời có nguồn gốc sâu xa từ những yếu tố tiền văn tự. Với thời gian dài tiến triển thành hệ thống chữ viết hình vẽ phát triển cao, được khắc trên đá ở Sa Pa, vào giai đoạn văn hóa đồng thau phát triển – Gò Mun. Trên cơ sở đó chuyển lên loại hình chữ viết cao hơn. Và cũng chính ngay bản thân hệ thống chữ viết cao đó, cũng có cứ liệu vững chắc để thấy sự đi lên của nó, từ thấp đến giai đoạn hoàn chỉnh của chữ viết ghi âm Đông Sơn – chữ viết có nguồn gốc riêng, sớm nhất ở Đông Nam Á”. Và “Sự phát hiện chữ viết góp phần hiểu sâu hơn văn hóa Đông Sơn. Nền văn minh đó, tất nhiên không giống các nền văn minh cổ khác đã ra đời ở các dòng sông lớn trên thế giới như sông Nil, Lưỡng Hà và Ấn Hà” và: “Văn minh Đông Sơn đã tỏa ảnh hưởng ra ngoài và chữ viết của người Việt cổ làm cơ sở cho các hệ chữ viết còn lại sau này”… “Chữ viết của người Việt cổ đã được định hình và phát triển trên địa bàn rất rộng vào các thế kỷ trước công nguyên.
Nó phân bố rộng hơn phạm vi thống trị của Tần – Hán ở các nước phía nam và Đông Nam Á… Thời khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chữ Hán còn rất hạn chế; chữ Việt cổ vẫn là công cụ thông tin và truyền lệnh sắc sảo, góp phần tích cực cho thắng lợi trên phạm vi 65 thành (huyện) – bao gồm Lưỡng – Việt, Hải Nam đến Nhật Nam?”.  Công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh cho đến nay là công trình duy nhất đã được công bố về chữ Việt cổ, rất khoa học với những luận điểm, luận chứng và luận cứ sâu sắc nhưng mới dừng lại ở mức độ chỉ ra là người Việt ta đã từng có con chữ riêng phát triển từ thấp đến cao, mà chưa đưa ra một hệ thống chữ cái cùng cấu trúc ngữ pháp, song đã vạch ra một hướng nghiên cứu đáng lưu tâm.
Có công trình nghiên cứu, công bố trên mạng để “nghe ngóng dư luận” đã đưa ra hệ thống chữ cái, cấu trúc ngữ pháp trên cơ sở nghiên cứu khảo sát một số di chỉ khảo cổ và khảo sát ngôn ngữ, đặc biệt là trên cơ sở chữ viết của người Thái đen Tây Bắc, chữ “khoa đẩu”, tức “chữ Việt cổ” này có thể ghi âm tất cả các văn bản của thế giới văn minh hiện nay, điều đó đã làm cho nhiều nhà nghiên cứu hoài nghi tính chân xác của công trình.
Một điều cần bàn là một số nhà nghiên cứu chữ Việt cổ cho rằng chữ viết của tộc Thái có nguồn gốc từ chữ Việt cổ và theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, tộc Thái, Mường, Tày, Kinh… đều thuộc Mongoloid phương Nam. Đó là di duệ của người Việt cổ bản địa chủng Indonesian và cùng được chuyển hóa sang Mongoloid phương Nam. Cũng như tộc Kinh, tộc Thái là con cháu của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Bởi sự chuyển hóa từ Việt cổ (đa số Indonesian) sang Việt hiện đại (Mongoloid phương Nam) xảy ra khoảng sau 2600 năm TCN, khi nước Văn Lang thành lập nhưng lại chưa đưa ra được luận cứ chứng minh một cách sáng tỏ, có tính thuyết phục cao. Trong khi tộc Thái, không  riêng ở Việt Nam đều cho rằng, họ vốn gốc rễ tại vùng núi A Nhĩ Thái (Altai) ở Trung Á thiên di dần về phía nam trong khoảng hàng ngàn năm và chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Sanscrit (Ấn Độ) thông qua mẫu tự Khmer? (phải chăng vì vậy miền Trung, nơi người Khmer cư trú có nhiều từ tương đồng với tiếng Thái như “na” – ruộng, “pu” – núi… (tiếng Thái)  trong khi đây là địa bàn chưa bao giờ người Thái đặt chân đến - Tác giả).
Ngay trong tác phẩm “Thanh Hóa quan phong” của Tổng đốc Thanh Hóa Vương Duy Trinh, đời Thành Thái, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (không rõ ngày sinh và ngày mất) có đoạn: “Người ta thường nói rằng nước ta không có chữ. Tôi nghĩ rằng không phải. Thập châu vẫn là đất nước ta, trên châu còn có chữ, lẽ nào mà  dưới chúng lại không? Lối chữ châu là lối chữ nước ta đó…”. Từ giả thiết trên của Vương Duy Trinh, sau này một số  nhà nghiên cứu chữ Việt cổ của nước ta khi tìm hiểu về chữ Thái trong “Thanh Hóa quan phong” cho rằng đó là chữ “Khoa đẩu”, tức là chữ Việt cổ, thì thực chất đấy là một trong 8 cách viết của chữ Thái, người biết chữ Thái đọc được không quá khó khăn.
Để chứng minh sự ưu việt của chữ Việt cổ do mình tìm ra, chủ yếu qua khảo sát ngôn ngữ, một nhà nghiên cứu đã ghi âm nhiều văn bản hiện đại bằng chữ Việt cổ. Điều đó làm cho các nhà khoa học và dư luận xã hội đặt ra một câu hỏi nghi vấn: Cách đọc và viết của người Việt cách đây 4.000 năm như thế nào? Mối liên hệ giữa ngôn ngữ Thái và ngôn ngữ Việt cổ ra sao? Trong khi chưa có sự thẩm định của Hội đồng khoa học cấp quốc gia về chữ Việt cổ thì có nơi đã vội vàng tổ chức dạy học trên mạng, thậm chí viết và treo những hoành phi, câu đối bằng “chữ Việt cổ”  như ở Thiên Cổ Miếu  - thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ? 
Một điều cần nhìn nhận đúng mức là tất cả các di chỉ tìm được trên nhiều vùng lãnh thổ còn ít di chỉ có chữ, chưa đủ để khẳng định văn tự của người Lạc Việt cổ đã là một ngôn ngữ viết hoàn chỉnh phát triển ở mức độ cao (ngay trên trống đồng Lũng Cú có hàng chữ được cho là chữ Việt cổ, thì cũng là chữ sơ khai). Điều này thật dễ hiểu là sau bao cuộc chiến tranh liên miên tranh đoạt lãnh thổ và nô dịch văn hóa, chữ Việt cổ bị bóp nghẹt ngay từ khi manh nha trên con đường phát triển, bị cướp đoạt về làm phong phú thêm cho ngôn ngữ của tộc người mạnh hơn, các di chỉ và thư tịch, theo thời gian và do chiến tranh mất dần và bị tàn phá phục vụ chính sách đồng hóa dân tộc của quân xâm lược. Trong khi chứng tích trên các di chỉ khảo cổ lại đáng tin cậy hơn cả.
Gần đây, giới nghiên cứu Trung Quốc công bố đã phát hiện được chữ Lạc Việt cổ ở Quảng Tây. Chữ viết Việt cổ này có mầm mống vào thời đầu của thời đại đồ đá mới, hình thành vào thời kì đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (4000-6000 năm trước). Đó là di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang – thị trấn Mã Đầu – huyện Bình Quả – thành phố Bách Sắc. Chuyên gia của Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt – tỉnh Quảng Tây phát hiện mấy chục khối mảnh vỡ xẻng đá lớn và tấm đá có khắc đầy chữ viết cổ.
Các nhà nghiên cứu phát hiện, khối đá có chữ viết lớn nhất là dài 103 cm, rộng 55 cm, trên bề mặt khắc đầy mấy trăm tự phù, phần lớn là chữ cúng tế và lời chiêm bốc. Theo thống kê sơ qua, trên những phiến đá này có hơn 1000 tự phù. Phát hiện chữ Lạc Việt ở Cảm Tang có ý nghĩa rất quan trọng vì phải chăng đó là chứng cứ rõ ràng nhất cho thấy người Lạc Việt sáng tạo chữ viết trên đất Trung Hoa khoảng 4000 đến 6000 năm trước? Mặt khác, chữ cổ Cảm Tang chứng minh sự liên tục của chữ tượng hình Lạc Việt từ Sa Pa, Việt Nam tới nhiều vùng khác nhau trên lục địa Trung Hoa.
Điều này trùng hợp với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu chữ Việt cổ trong nước sau khi khảo sát, đối chứng, so sánh sự phát triển những ký tự trên các di chỉ đồ đồng Đông Sơn, những hiện vật đặc trưng, đặc hữu của người Lạc Việt trong suốt chiều dài mấy nghìn năm lịch sử.
Công trình của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những phát hiện gần đây trên lãnh thổ Trung Quốc ngày càng đem lại cho chúng ta niềm tin người Lạc Việt cách đây mấy nghìn năm đã có chữ viết và chữ viết ấy là tiền đề cho nhiều văn tự trong khu vực.
Để hiểu về chữ Việt cổ của người Lạc Việt mà dân tộc ta có công gìn giữ, cần có một công trình nghiên cứu tập trung trí tuệ của nghiều nhà khoa học, với những cứ liệu chắc chắn, không thể chỉ bằng lòng yêu nước và sự suy đoán.

Hà Nội tháng 4.2012
Trần Thi