.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Friday, May 4, 2012

BẠN ĐỌC NUÔI THƠ BÙI MINH QUỐC

NTT và Bùi Minh Quốc
NTT: Hai cuộc ra mắt thơ tình “Trinh thiêng” của nhà thơ Bùi Minh Quốc đều được bạn bè hưởng ứng nhiệt liệt và ủng hộ bằng… tiền “nuôi thơ”. Lần ở Hà Nội, hòm “nuôi thơ” nhận đươc gần 10 triệu đồng, rất xúc động. Trưa hôm đó BMQ mời bạn bè cuộc rượu tại nhà hàng 2V (gọi đùa là 2 vợ, vớ vẩn, vui vẻ…), xong cuộc, MC Phạm Xuân Nguyên gọi nhà hàng tính tiền thì được cho biết nhà văn Phạm Lưu Vũ đã “thanh toán”. Cuộc thanh toán này cũng là một động thái góp… “nuôi thơ” vậy.

BẠN ĐỌC NUÔI THƠ BÙI MINH QUỐC
Sau 9 năm kể từ tập “Ru xa” (NXB Phụ nữ, 2003), Bùi Minh Quốc mới lại có thơ trình làng: tập “Trinh thiêng” (NXB Hội nhà văn, 2012).Cũng như “Ru xa”, tập thơ chỉ có 9 bài, nhưng “Trinh thiêng”có thêm phần bản dịch tiếng Anh (dịch giả Vũ Anh Tuấn) và tiếng Pháp (dịch giả Trần Thiện Đạo).
Ngày 22.04.2012, “Trinh thiêng” được tổ chức ra mắt tại Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.Sách thơ “Trinh thiêng” có chữ ký tác giả được trao tặng đến tất cả các bạn đọc và đồng nghiệp có mặt. Một hòm công đức được đặt ra với dòng chữ “HÒM CÔNG ĐỨC NUÔI THƠ BÙI MINH QUỐC”. Hòm công đức đã nhận được những đồng tiền đầy ân nghĩa.“Trinh thiêng” bắt đầu được chăm nuôi như thế. Ngày 27.04, tại Đà Nẵng, một cuộc ra mắt tương tự cho “Trinh thiêng” cũng được một số văn hữu nhiệt tâm gấp rút tổ chức và nhận được sự chăm nuôi thắm thiết.
Tác giả trân trọng kính báo :
Bạn nào muốn có “Trinh thiêng” có chữ ký tác giả, xin đến nhận tại các địa chỉ sau :
-          Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, nhà 11A khu chung cư Trần Quý Kiên, Cầu Giấy, Hà Nội
-          Cà phê LÂM, 286 Lê Thanh Nghị, quận Hải Châu, Đà Nẵng, ĐT (0511)3624909.
-          03 Nguyễn Thượng Hiền, Đà Lạt, ĐT : (063) 3815459
Sau khi đọc“Trinh thiêng” , bạn nào cảm thấy thơ Bùi Minh Quốc xứng đáng được nuôi, xin bỏ tiền vào hòm công đức tại các địa chỉ trên hoặc gửi qua ngân hàng theo địa chỉ :
Bùi Minh Quốc, số tài khoản 0071003024033  VIETCOMBANK, DALAT.
Trân trọng cám ơn!
BÙI MINH QUỐC
 Nguồn: Nguyễn Trọng Tạo

ĐỂ BÁO CHÍ VĂN NGHỆ LUÔN “HAY – ĐẸP VÀ NHANH”

Chúng tôi đã từng có một số ý kiến bàn về nâng cao chất lượng biên tập, quảng bá ấn phẩm báo chí văn nghệ trong thời kỳ mới trên diễn đàn một số Hội nghị và được đăng tải trên báo chí văn nghệ mấy năm gần đây. Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ xin được nói gọn và tập trung vào mấy điểm căn cốt với kỳ vọng báo chí văn nghệ (loại hình in, viết) tiếp tục được phát triển, luôn “Hay - Đẹp và Nhanh”(1) như ý kiến của đồng chí Trường Chinh.

Cần nhận rõ thực trạng xuống cấp và sa sút tính chuyên nghiệp của báo chí văn nghệ để kịp thời chấn chỉnh và khắc phục dần. Nguyên nhân của thực trạng.

Báo chí văn nghệ (loại hình báo viết, in) sau Cách mạng tháng 8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có lịch sử hơn 60 năm(2). Từ chỗ lúc đầu chỉ có 01 tờ tạp chí duy nhất cho toàn giới, sau hơn 60 năm hình thành và phát triển nhịp với sự lớn mạnh của mặt trận Văn học Nghệ thuật (VHNT) cả nước, đến nay 10 Hội VHNT chuyên nghành TƯ và 63 Hội VHNT tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam, mỗi Hội đều có ít nhất 01 tờ báo (ra hàng tuần hay bán nguyệt san); hoặc 01 tờ tạp chí (ra hàng tháng hay 2, 3 tháng/1 kỳ) là cơ quan ngôn luận chính thức và chủ yếu của Hội. Tổng số đầu báo, tạp chí của Hội VHNT ở TƯ và các tỉnh, thành phố trong cả nước là hơn 90 tờ.
Nhìn chung, báo chí văn nghệ, qua từng giai đoạn cách mạng, đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nền văn nghệ dân chủ mới, tiến lên nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, với tính chất dân tộc, tiên tiến và nhân văn, đáp ứng một phần nhu cầu của công chúng khát khao văn hóa đọc.
Nhưng bước vào thời kỳ đổi mới, trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do sự phát triển mạnh mẽ của thông tin - truyền thông, bên cạnh văn hóa đọc truyền thống còn có văn hóa nghe nhìn, văn hóa mạng internet, chúng ta đã chưa chú ý đúng mức để lĩnh vực văn hóa, văn nghệ phát triển hài hòa với các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội. Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 khóa VIII (7/1998) và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X (6/2008) với định hướng “xây dựng và phát triển nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã bước đầu kịp thời khắc phục tình trạng trên.
Song trên phạm vi báo chí văn nghệ (in, viết) một khu vực quan trọng của báo chí nói chung, nơi vừa thuộc sự quản lý nghề nghiệp của cơ quan báo chí vừa thuộc cơ quan Hội văn nghệ chủ quản về nội dung và tổ chức hoạt động - thì ở cấp vĩ mô, có lẽ vẫn chưa có một văn bản riêng nào do Đảng và Nhà nước ban hành cho thấy sự chỉ đạo rốt ráo từ cơ quan lãnh đạo và quản lý cao nhất của đất nước đối với một lĩnh vực nhạy cảm, đặc thù, kết hợp đồng thời cả hai loại hình tư duy: báo chí - tuyên truyền và sáng tạo văn học - nghệ thuật trong một loại kiểu ấn phẩm như báo chí văn nghệ.
Có thể nói trong định hướng ngày càng sáng rõ về sự nghiệp báo chí, văn hoá, văn nghệ (nói chung) đã được thể hiện qua các văn kiện Nhà nước, Nghị quyết của Đảng thì những trang, những dòng đề cập đến báo chí văn nghệ quả thực là còn quá ít ỏi, sơ sài, hình như thả nổi cho sự quản lý của mỗi bên: cơ quan báo chí và cơ quan Hội văn nghệ. Vì thế sự đầu tư, hỗ trợ từ nguồn kinh phí Nhà nước cho báo chí văn nghệ mới rơi vào “bó cứng” suốt hơn 20 năm nay (mỗi cơ quan báo chí cấp TƯ, qua Bộ Văn hóa - Thông tin trước đây, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chỉ được Nhà nước hỗ trợ 50 triệu đồng/năm, kể từ 1991) hoặc tùy tiện (mỗi Hội chủ quản ở TƯ hoặc địa phương, tùy theo hạn mức kinh phí Nhà nước cấp tổng thể cho Hội mà san sẻ, phân bổ lại một phần cho tờ báo, tờ tạp chí mà mình quản lý trực tiếp, tối đa chỉ bằng 1/10 kinh phí ít ỏi của toàn Hội). Tờ báo, tạp chí nào muốn được kinh phí nhiều hơn thì về tổ chức phải tách ra độc lập, trực thuộc tỉnh, thành phố để UBND tỉnh, thành phố có căn cứ làm đầu mối trực tiếp cấp hỗ trợ kinh phí hoạt động cho tờ báo, tạp chí đó.
Rồi việc bố trí người làm báo chí văn nghệ theo kiểu tư duy nhiệm kỳ quan phương và thiển cận, nhất là ở các tỉnh và thành phố, nhìn chung là chưa đủ cơ số biên chế, lại tùy tiện, không đạt tiêu chuẩn là văn nghệ sĩ chuyên trách, là nhà báo chuyên nghiệp đã được đào tạo ít nhất ở bậc Đại học. Lại nữa, cơ sở vật chất, thiết bị máy móc cho báo chí tác nghiệp nhanh, đảm bảo chất lượng cao, nhìn chung là chưa đạt, còn lạc hậu, nghèo nàn, cũ kỹ.
Trong tình hình lãnh đạo, chỉ đạo, phân cấp quản lý, hỗ trợ kinh phí, sắp xếp nhân sự, trang thiết bị vật chất... như vậy, nên chất lượng báo chí văn nghệ bị giảm sút: một số báo chí văn nghệ địa phương bằng lòng với việc trở thành loại ấn phẩm định kỳ tập hợp sáng tác văn học là chủ yếu; với bài vở, tin, ảnh có chất lượng trung bình yếu hoặc thấp; trình bày mỹ thuật, ma-két bìa và các trang ruột thiếu chuẩn mực quốc gia, không đảm bảo tính chuyên nghiệp của ấn phẩm báo chí; tia-ra phát hành thấp, dồn kỳ, ít trang nên dung lượng mỏng, nghèo nàn; nhuận bút trả thấp không thu hút nhiệt tình và tâm huyết gửi bài của cộng tác viên là văn nghệ sĩ tên tuổi...
Tình hình sa sút của báo chí văn nghệ đã đến mực báo động khẩn cấp, không thể lùi, tụt dốc hơn được nữa; cần phải dừng lại chấn chỉnh, vực xốc báo chí văn nghệ vươn lên.

Một số biện pháp khắc phục
Đảng và Nhà nước cần khảo sát, tiến tới ban hành một văn bản chính thức (ở cấp độ phù hợp: Pháp lệnh, Thông tư, Quy định hoặc Hướng dẫn thực hiện...) cho thấy sự quan tâm thiết thực, sâu sát với quan điểm, chính kiến rõ ràng về định hướng nhiệm vụ, chức năng, phân cấp quản lý, chăm chút báo chí văn nghệ, xếp báo chí văn nghệ vào loại hình tương đương đơn vị công lập, được Nhà nước hỗ trợ kinh phí phần lớn. Có như vậy báo chí văn nghệ mới có hành lang pháp lý rõ ràng để đủ điều kiện hoàn thành sứ mệnh thực thi các nhiệm vụ chính trị - xã hội - nghề nghiệp được giao phó, thoát khỏi cảnh chạy vạy, xin xỏ hết cửa này đến cửa khác.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần nhận rõ đặc điểm của báo chí các ngành, tổ chức, để tránh rập khuôn(3). Vậy chúng ta cần quán triệt để các cấp (tổ chức Đảng, chính quyền, Hội văn nghệ) nhận rõ đặc điểm chức năng của báo chí văn nghệ (vừa là người tuyên truyền bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai; vừa làm nghề nghệ thuật hướng về cái hay và cái đẹp); đặc điểm của ngôn ngữ báo chí văn nghệ (kết hợp giữa ngôn ngữ tân văn, chính luận của báo chí với ngôn ngữ tự thân, riêng của từng chuyên nghành văn nghệ); đặc điểm của người làm báo văn nghệ (hai trong một: vừa là nhà báo, vừa là văn nghệ sĩ hay nói cách khác là văn nghệ sĩ làm báo theo kiểu của văn nghệ).
Như vậy cần tạo những điều kiện tối thiểu, cần và đủ, để báo chí văn nghệ hoàn thành nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn bằng tác phẩm văn nghệ là chính yếu, trong đó kết tinh phẩm chất, tài năng, góc nhìn và phương pháp nghệ thuật tiếp cận đời sống xã hội của văn nghệ sĩ, hướng con người tới những mục tiêu của Chân - Thiện - Mỹ.
Nhà nước cần xem xét lại việc đầu tư hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho báo chí văn nghệ; về tổ chức biên chế nhân sự; về cơ sở vật chất trang thiết bị tác nghiệp, truyền thông hiện đại... cùng với xây dựng các chính sách, chế độ đối với cơ quan báo chí văn nghệ và người làm báo chí văn nghệ, một cách khả thi, trên cơ sở tham khảo các ý kiến đề xuất, tư vấn từ hai cơ quan Bộ Thông tin - Truyền thông và Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.
Về phía cơ quan chủ quản báo chí văn nghệ là các Hội VHNT chuyên ngành TƯ, các Hội VHNT tỉnh, thành phố cần rà soát, chấn chỉnh việc bố trí sử dụng cán bộ thuộc Ban chấp hành Hội, cơ quan Hội là văn nghệ sĩ làm báo chuyên trách trên các cương bị chủ chốt: Tổng biên tập, Phó tổng biên tập, Trưởng ban biên tập, Thư ký Tòa soạn... theo đúng quy trình bổ nhiệm và tiêu chuẩn cương vị phụ trách. Với Tòa soạn, tuyệt đối không phân công kiêm nhiệm quản lý, chức danh không đúng ngạch bậc Luật Báo chí quy định, không phải là cán bộ có sở trường chuyên môn về văn nghệ và báo chí.
Tổng biên tập phải chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản về việc sử dụng các loại cán bộ nhân viên khác (biên tập viên, phóng viên, họa sĩ, nhân viên vi tính, nhân viên sửa morát, nhân viên phát hành - văn phòng, kế toán, thủ quỹ, lái xe...) sao cho đảm bảo phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động mọi mặt của báo văn nghệ.
Từng tòa soạn báo chí văn nghệ cần chủ động xây dựng quy hoạch và kế hoạch hoạt động dài hạn, từng năm, từng quý và hàng tháng, đảm bảo ấn phẩm hay, đẹp và ra đúng kỳ, nhanh đến tay người đọc: chú trọng chất lượng các loại bài vở; tranh ảnh, tin tức, hài hòa giữa sáng tác thuộc các thể loại và chuyên ngành với bài nghiên cứu - lý luận - phê bình; bài diễn đàn, phỏng vấn, trao đổi ý kiến về các vấn đề chính trị - xã hội - nghề nghiệp hữu quan và bức xúc. Đồng thời coi trọng nghệ thuật thể hiện mang bản sắc văn hóa vùng miền, mang phong cách riêng của tờ báo Hội mình (qua đặt tên báo và măng-sét, lo-gô, qua sắp sắp xếp các chuyên mục, ma-két trình bày các trang bìa, trang ruột, sửa mo-rát kỹ lưỡng...)
Duy trì mạng lưới cộng tác viên nòng cốt trong và ngoài Hội, trong và ngoài tỉnh cho từng chuyên mục, thể loại; thực hiện chi trả nhuận bút hợp lý, nhanh gọn; từng bước mở rộng mạng lưới phát hành đến các vùng địa bàn và các loại đối tượng người đọc ở trong và ngoài nước.
Thành thực tự phê bình và tiếp thu phê bình từ phía độc giả đối với báo, Tạp chí của Hội mình, nghiêm túc khắc phục các bất cập, sửa các lỗi do yếu kém để báo chí văn nghệ đáp ứng mạnh mẽ yêu cầu phát triển của các chuyên ngành văn học nghệ thuật, của phong trào VHNT của tỉnh, thành phố.
*
Tóm lại báo chí văn nghệ là loại hình báo chí loại biệt và đặc thù, vừa tuyên truyền đấu tranh bảo vệ đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, vừa quảng bá tác phẩm VHNT tốt, lành mạnh tới đông đảo người đọc, xây dựng nền tảng tinh thần tốt đẹp của xã hội, nâng cao thị hiếu và năng lực thẩm mỹ của con người hiện đại, văn minh. Báo chí văn nghệ cần hay, đẹp, được công chúng hào hứng đón nhận và bổ ích đối với họ, để đời cho mai sau.
Cần hoàn thiện sự lãnh đạo, quản lý với cơ chế, chính sách phù hợp để báo chí văn nghệ tiếp tục tồn tại và phát triển, là loại hình báo chí chứa đựng những thông tin thẩm mỹ và giá trị thẩm mỹ cao quý mà không loại hình báo chí nào thay thế được. Sự hiện diện của báo chí văn nghệ là không thể thiếu được, góp phần làm phong phú đời sống tư tưởng, tinh thần, tình cảm và đáp ứng khát vọng cảm thụ cái Đẹp của mỗi con người.
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
---------------------
(*) Bài viết nhân Hội nghị báo chí văn nghệ toàn quốc, họp tháng 4/2012, tại TP. Huế.
Tiêu đề do tác giả đặt là "Nhận rõ đặc điểm riêng, để báo chí văn nghệ (in, viết) luôn hay và đẹp, đến nhanh với người đọc"
(1) Trường Chinh - Về văn hóa và nghệ thuật, tập II, Nxb. Văn học, H., 1986, tr. 225
(2) Tính là 67 năm, nếu kể từ số 1 Tạp chí Tiên phong của Hội Văn hóa cứu quốc phát hành 12/1945; tính là 64 năm, nếu kể từ số 1 Tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, phát hành 3/1948.
(3) Hồ Chí Minh - Về công tác văn nghệ, Nxb. Sự thật, H., 1971, tr. 43.

DỨT KHOÁT KHÔNG BAO GIỜ TRAO GIẢI THƯỞNG HỒ CHÍ MINH CHO HỌA SĨ NGUYỄN GIA TRÍ!?


Thư của họa sĩ Ngọc Linh-Lê Lam về giải thưởng VHNTNgọc Linh-Lê lam 
TNc: Sớm nay (4-5), tôi nhận được thư này do con trai nhà văn Sơn Tùng gửi (do ông Ngọc Linh nhờ gửi). Đọc nội dung và thấy tên hai họa sĩ tài danh Ngọc Linh và Lê Lam, hai ông đều ghi rõ địa chỉ, số điện thoại. Như vậy hai ông đã minh bạch chịu trách nhiệm điều mình nói ra. Do vậy TNc cho bài lên để rộng đường dư luận...

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – hạnh Phúc

Kính thưa  đồng chí:

Chúng tôi là một số hoạ sĩ lão thành Việt Nam xin gửi đến đồng chí mấy ý kiến tâm huyết và cấp bách của chúng tôi xung quanh về vấn đề xét tặng Giải thưởng văn học Nghệ thuật Hồ Chí Minh cho họa sĩ Nguyễn Gia Trí.
Năm 1945-1946 Nguyễn Gia Trí là một thành viên tích cực của Việt Nam Quốc Dân đảng do Vũ Hồng Khanh cầm đầu, chống phá cách mạng bằng công khai phản tuyên truyền đường lối chủ trương của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà do Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Chúng ám sát, giết người bằng mọi thủ đoạn, ngày đêm trên đường phố Hà Nội, tổ chức cả một cuộc chiến đấu ở Vĩnh Yên trong nhiều tháng. Chúng gây ra vụ giết người ở phố Ôn Như Hầu, giết hại hàng chục nhân dân và cán bộ ta.
Chúng tôi còn đến phố Ôn Như Hầu xem hàng chồng quan tài để chôn cất nạn nhân. Chính vì vậy mà quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã ra lênh quét sạch bọn Quôc Dân Đảng. Nhờ sự bao che của bọ Tàu Tưởng, nên nhiều tên đã trốn sang Hồng Công, Ma Cao, rồi về nước sống với Mỹ, Nguỵ ở miền Nam.
Năm 1997, Đồng chí Vũ Năng An nguyên giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam đã kể lại cho chúng tôi nghe: Nguyễn Gia Trí đã cầm súng ngắn đến yêu câu anh Vũ Năng An đi chụp ảnh cuộc họp gì đó của Quốc Dân đảng ở Ngũ xã- Hồ Tây, Hà Nội.  Anh Vũ Năng An và bè bạn đã lẩn trốn khéo léo... Sau này đồng chí Vũ Năng An còn được giao chuyển thư cho Nguyễn Gia Trí ở Hồng Công. ta khuyên Trí về nước, ta sẽ đối xử tử tế. Nhưng Trí đi thẳng và ngày 30/4 /1975 Trí không chạy kịp nên còn ở lại Sài Gòn.
Năm 1997, đồng chí Vũ Năng An nói: Một tên như vậy mà ta lại Tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh thì thật là quái dị!
Anh Vũ Năng An cũng nhắc bức tranh Nguyễn Gia Trí vẽ trên báo Việt Nam (Quốc Dân Đảng ở Hà Nội) vẽ Bác Hồ bưng rổ, rách rưới, đả kích Tuần lễ vàng, theo sau là vua Bảo Đại và cụ Huỳnh Thúc Kháng như một lũ ăn mày, ăn xin.
Anh Vũ Năng An còn nói thêm: Đấy, Nguyễn Gia Trí vẽ Bác Hồ như thế đấy ! Sao lại tặng giải gì cho hắn- Nguyễn Gia Trí. 
Mấy họa sĩ lão thành chúng tôi năm đó ( 1997) liền viết thư ngay lên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu yêu cầu không thể tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Nguyễn Gia Trí
Nhân dịp đó anh Nguyễn  Đỗ Bảo có đến tôi nói chuyện: Người ta yêu cầu anh Nguyễn Đỗ Bảo dẫn đoàn quay phim lên quê Nguyễn Gia Trí. Lên đến nơi, các đồng chí Đảng uỷ, Uỷ ban xã, quê hương của Nguyễn Gia Trí không cho quay phim vì cho rằng Nguyễn Gia Trí là một người chống phá cách mạng, không làm gì cho cách mạng dù chỉ một ngày. Bởi vậy anh Nguyễn Đỗ Bảo đành ra về một cách vui vẻ.
Họa sĩ Ngô Minh Cầu khi cùng chúng tôi đứng trước bức tranh sơn mài khổ to của Nguyễn Gia Trí treo ở thành phố Hồ Chí Minh đã nói : Khi mình đã làm sơn mài nhiều rồi mới thấy làm như thế này là quá bình thường, có gì ghê gớm đâu! Vậy mà tốn bao nhiêu tiền để mua lại, trong lúc nhân dân ta, anh em ta nghèo khổ bao nhiêu vì cấm vận bao vây.
Một hoạ sĩ trong chúng tôi cười nói : Biết đâu chẳng phải trò “đạo diễn, đồng tiền đổi trắng thay đen khó gì”.
Kính thưa đồng chí
để kết luận ý kiến, chúng tôi xin nói: Dứt khoát không bao giờ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Nguyễn Gia Trí, một kẻ suốt đời chống lại Hồ Chí Minh, chống lại dân tộc Việt Nam quang vinh  đã tốn bao xương máu cho độc lập, tự do.

Hà Nội, ngày 10/4/2012
Kính thư

Nghệ sĩ ưu tú- Hoạ sĩ Ngọc Linh ( 83 tuổi)
Số nhà 43/ ngõ 152 Hào Nam, Phương Ô Chợ Dừa, Đống Đa , Hà Nội
ĐT 0986268835
 Hoạ sĩ Lê Lam ( 82 tuổi) ĐT: 04.38351829
Nguồn: Trần Nhương

ĐỌC “PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI”

(Nhân đọc Trịnh Bá Ðĩnh, Phê bình văn học Việt Nam hiện đại - NXB Văn học, H.2011)
Trong giới ngữ văn học, người ta biết đến Trịnh Bá Ðĩnh như một người có những công trình nghiên cứu, dịch thuật công phu với những tìm tòi tâm huyết, nhất là với hướng cấu trúc - ký hiệu học. 
Cuốn sách mới ra mắt gần đây của ông dường như lại nhắm vào một đề tài khác, là những vấn đề của nền phê bình văn học hiện đại nước nhà: lịch sử, các phương pháp của nó và những vấn đề đang được đặt ra trong lý luận phê bình hiện nay, hay như tác giả gọi là "phê bình văn học trong thời đại thông tin"...
Như tác giả đã viết trong Lời mở đầu, đây là công trình tập hợp những bài viết về phê bình văn học Việt Nam của ông trong mười năm trở lại đây. Một công trình như thế, tất không tránh khỏi một vài luận điểm và dẫn chứng, một vài cách diễn đạt nào đó có sự lặp lại, một số vấn đề đã giảm tính thời sự. Nhưng với người làm khoa học, nhất là trước đối tượng phức tạp và đa dạng như nghiên cứu - phê bình văn học trong hơn một thế kỷ qua, mười năm là khoảng thời gian cần thiết để người viết cẩn trọng, phân tích đầy đủ diện mạo, đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế của hoạt động phê bình văn học nước nhà, từ đó đi tới đề xuất những vấn đề hữu ích đối với hoạt động phê bình văn học đương đại.
Về cấu trúc, cuốn sách được chia làm ba phần với ba trọng tâm khác nhau. Phần thứ nhất, tác giả nhận diện phê bình văn học Việt Nam thế kỷ 20 qua những phong cách phê bình, tập trung đánh giá lại những thành tựu và hạn chế của phê bình văn học Mác-xít. Tác giả dành nhiều trang viết tâm huyết giới thiệu và phân tích những phương pháp phê bình như phê bình cấu trúc luận, giải thích văn bản và so sánh văn học, phân tích tác phẩm theo cấu trúc - loại hình. Phần thứ hai, Trịnh Bá Ðĩnh tập trung phân tích các kiểu diễn ngôn phê bình đầu thế kỷ 20, lịch sử tiếp nhận - nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều, đặc điểm của việc tiếp nhận tư tưởng lý luận văn học nước ngoài từ năm 1955 cho đến nay. Phần ba là những suy ngẫm của tác giả về thực trạng đời sống văn học đương đại và con đường của lý luận - phê bình văn học Việt Nam tương lai.
Trên những nét lớn, Phê bình văn học Việt Nam hiện đại có giá trị như một công trình nghiên cứu lịch sử và phương pháp phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Phê bình được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau (và theo tôi đây là đóng góp chủ yếu của cuốn sách): Loại hình nhà phê bình, các kiểu diễn ngôn phê bình, số phận của các phương pháp phê bình, quá trình tiếp biến các tư tưởng lý luận văn học nước ngoài, sự vận động của các phương pháp phê bình xoay quanh lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều, chân dung một số nhà nghiên cứu - phê bình văn học tiêu biểu từ quá khứ đến đương đại. Ðể tiếp cận phê bình văn học Việt Nam từ nhiều góc độ như thế, tác giả là người đã đọc kỹ, nghiền ngẫm thấu đáo những công trình nghiên cứu phê bình tiêu biểu của thế kỷ vừa qua của các tác giả Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Ðào Duy Anh, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Bách Khoa, Ðặng Thai Mai, Phan Cự Ðệ, Hà Minh Ðức, Lê Ðình Kỵ, Phan Ngọc, Ðỗ Ðức Hiểu, Trần Ðình Sử, Ðỗ Lai Thúy, Vũ Ðức Phúc, Ðỗ Ðức Dục, Trần Ðình Hượu, Hoàng Trinh, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Lộc, Nguyễn Ðăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Ngọc Trà... Những phương pháp phê bình cơ bản, những ưu điểm và nhược điểm của từng loại hình nhà phê bình, những đặc điểm của từng kiểu diễn ngôn phê bình trong lịch sử đều được nhìn nhận, đánh giá công tâm, nghiêm túc và cẩn trọng. Chẳng hạn, nghiên cứu trường hợp Nguyễn Bách Khoa, ông cho rằng, hai quan điểm cơ bản đã từng bị phê phán kịch liệt từ nhiều phía của Nguyễn Bách Khoa (về tính độc lập tương đối của văn học, về sự khu biệt của văn học) lại là những điểm khả thủ nhất trong sự nghiệp phê bình - nghiên cứu của Trương Tửu nhìn từ hôm nay. Khảo sát trường hợp Lê Ðình Kỵ, ông chỉ ra rằng, chính quan điểm "không vì lý thuyết mà quên mất thực tiễn" đã giúp cho Lê Ðình Kỵ có những trang viết sánh ngang với Hoài Thanh, công trình về Truyện Kiều của ông nhờ đó sống được với thời gian.
Theo Trịnh Bá Ðĩnh, đặc điểm, thành tựu, hạn chế của phê bình văn học Việt Nam hiện đại là kết quả của các quá trình giao lưu văn hóa. Giao lưu càng rộng, càng đa dạng, đa diện thì bức tranh văn học càng sôi động và phê bình cũng đa sắc, thêm nhiều thành tựu. Từ năm 1955 đến cuối thập kỷ 80, chúng ta chỉ giao lưu, tiếp xúc chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa. Trong giới thiệu, tiếp nhận các quan điểm lý luận Mác-xít bộc lộ những phiến diện "đã làm tổn hại đến một trào lưu lý thuyết về văn học nghệ thuật chứa đựng nhiều chân lý và sáng tạo" (tr. 278). Về phía người nhận, hậu quả của quá trình tiếp thu máy móc và phiến diện đó là những quan điểm văn học nghệ thuật giáo điều, lý luận - phê bình văn học đã đi từ những uyển chuyển mềm mại đến những sự quy phạm hóa cứng nhắc, áp đặt, "làm giảm uy tín của phê bình nghiên cứu văn học theo tinh thần phản ánh luận" (tr. 266). Từ những năm 80 trở lại đây, cùng với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, phê bình văn học "từ chân trời một phía đến chân trời nhiều phía". Chúng ta được tiếp thu nhiều "kênh", nhiều quan điểm, nhiều lý thuyết có khi trái ngược nhau, đời sống văn học và phê bình phức tạp, đa dạng, phong phú hơn.
Trịnh Bá Ðĩnh cho thấy, bản sắc truyền thống và yếu tố ngoại nhập, ưu nhược điểm của phê bình văn học Việt Nam đều thể hiện trong hơn hai thế kỷ phê bình nghiên cứu Truyện Kiều. "Việc dịch chuyển máy móc các phạm trù được phát hiện trong lịch sử văn hóa phương Tây sang các hiện tượng văn hóa các nước phương Ðông ẩn chứa nhiều hiểm họa" - đó là tư tưởng của N.I.Co-rát mà Trịnh Bá Ðĩnh tâm đắc (tr. 149). Nhưng ông cũng lưu ý rằng nếu tự khóa chặt mình, không có giao lưu, học hỏi, tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nước ngoài, rất khó xây dựng một nền lý luận phê bình văn học hiện đại. Gắn với quá trình tiếp xúc đa dạng với thế giới bên ngoài, phê bình từ những năm 80 đến nay chuyển hướng, từ phản tư đến hội nhập. Nhận diện lý luận phê bình hiện nay, ông tin rằng phê bình đang trong xu hướng tiến tới tính hiện đại và nhân văn. Theo ông, phê bình lý luận phải được định hướng nhằm khám phá những giá trị nhân văn trong văn học, cổ vũ lòng dũng cảm, chia sẻ những bất hạnh, chất vấn lẽ sinh tồn của con người và phải được phát triển đồng bộ với các lĩnh vực khoa học nhân văn khác.  
Thông qua việc khảo sát những đặc điểm và diện mạo hơn một thế kỷ qua của phê bình văn học, Trịnh Bá Ðĩnh thường lồng ghép vào đó những quan điểm riêng của ông về nghề nghiệp và về văn chương. Theo ông, nghệ thuật không phản ánh hiện thực, nghiền ngẫm hiện thực mà đó là cách sống với hiện thực. Với ông, "ngôn ngữ ở trong chúng ta đồng thời chúng ta ở trong ngôn ngữ" (tr. 71), "ngôn ngữ luôn mang thông tin về hiện tại", "hàm chứa ký ức truyền thống" (tr. 52). Như thế, văn học vừa sống với hiện thực, vừa sống trong thế giới của nó:
Thế giới của ngôn ngữ. Ông cổ vũ những đổi mới văn học vì nhận thức rõ rằng "bất kỳ một tác phẩm cách tân táo bạo nào cũng dựa trên truyền thống". Tôi tâm đắc với tác giả khi ông cho rằng, lý luận - phê bình văn học chỉ có thể phát triển trong môi trường đối thoại. Không có đối thoại sẽ không có sáng tạo. Vì chỉ trong môi trường đối thoại, lý luận và phê bình mới đạt được sự thống nhất giữa tính hiện đại và tính nhân văn.

NGUYỄN VĂN THUẤN
Nguồn: Nhân Dân