.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Wednesday, February 1, 2012

Ý NGHĨA CỦA TÊN GỌI VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA

1. Ý nghĩa của tên gọi Việt Nam

Khi nêu lên câu hỏi ý nghĩa tên gọi Việt-Nam, tên gọi của quốc gia chúng ta hôm nay, hẳn nhiên cần phải ghi nhận những sự kiện lịch sử khách quan liên hệ đến việc chọn lựa danh hiệu nầy. Nhưng, trong khuôn khổ chuyên môn nghiên cứu của tôi, tôi không đủ khả năng để đi sâu vào những chi tiết có tính cách thuần lịch sử. Thật  đáng tiếc!

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về  văn hóa Việt-nam, tôi có đọc được một bản văn mà tôi đánh giá là có giá trị văn hiến làm nền cho tư tưởng truyền thống dân tộc -  Truyện  Họ Hồng Bàng trong tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái do Vũ Quỳnh hiệu chính và xuất bản vào mùa thu năm 1492 -, và truy tìm được nghĩa của hai từ Việt và Nam trong khuôn khổ văn hóa tư tưởng mà bản văn nầy muốn chuyển tải.

Trong truyện Họ Hồng Bàng nầy, câu kết tóm gọn như sau :

Bách-Nam là thủy-tổ của Bách-Việt vậy #.

Muốn hiểu hai chữ Nam và Việt trong câu nầy, dĩ nhiên chúng ta cần đọc nguyên bản văn# để nắm bắt được lý do tại sao hai chữ ấy có thể thu tóm ý nền tảng tư tưởng mà « bản văn Sáng Thế »  ấy muốn chuyển đạt.

(Tôi đã cố gắng minh giải bản văn trên đây trong chương III cuốn Văn Hiến, Nền Tảng Của Minh Triết do Định Hướng xb. năm 1997. Để trình bày tiếp câu hỏi về ý nghĩa tên Việt Nam ở đãy, tôi chỉ gói gọn ý kiến của mình trong khuôn khổ bản văn truyện Họ Hồng Bàng trong cuốn Lĩnh Nam Chích Quái doVũ Quỳnh hiệu chính.)

a/  Bối cảnh chung
- Chúng ta xác định được là hai chữ Việt và Nam đã được nhắc đến trong tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái do Vũ Quỳnh hiệu chính năm 1492.

- Hai chữ ấy được nêu lên cô động toàn ý nghĩa truyện Họ Hồng Bàng. Truyện nầy lại là truyện đầu cuốn sách : nó vừa trình bày nội dung tổng quát của sách (các truyện tiếp theo chỉ là phần khai triển chương nầy),  vừa nói lên một nội dung duy nhất và nền tảng cho văn hóa đó là VẤN ĐỀ Ý NGHĨA CỦA NHÂN TÍNH. Trong bối cảnh văn chương đặc loại như thế, chữ VIỆT và NAM phải được hiểu trong khuôn khổ của vấn nạn duy nhất ấy.
- Hai sự kiện khác nữa cần lưu ý nữa đó là lối hành văn đặc biệt của các bản văn văn hóa cổ nói chung và đặc biệt của cuốn Lĩnh Nam Chích Quái :
- Một là lối nói thi ca và tượng trưng : các chữ dùng chỉ nhằm nói đến một nội dung duy nhất là con người và những yếu tố hình thành, những chiều kích sinh hoạt của nó ; nhưng nội dung đặc lại nầy được diễn tả qua những hình ảnh của những vật thể khác trong vũ trụ. Riêng đối với cuốn Lĩnh Nam Chích Quái, phần lớn các tên gọi lại là hán việt ; do đó không những phải lưu ý âm hưởng thi ca của tên gọi, mà còn cần lưu ý âm hưởng thi ca của tên gọi đó trong bối cảnh của văn hóa Á Đông nữa.
- Riêng đối với câu hỏi của chúng ta về ý nghĩa tên Việt Nam, thì vấn đề lại khó khăn hơn. Chữ ý nghĩa, tiếng Pháp là signification hàm ngụ sự hiểu biết của trí khôn con người khi đo lường một sự vật. Nó thuộc lãnh vực lý thuyết khách quan. Trái lại, nghĩa của hai chữ Việt Nam mà tác giả Vũ Quỳnh nêu lên trong khuôn khổ cuốn Lĩnh Nam Chích Quái không phải là ý nghĩa của một vật thể mà các bộ môn khoa học ngày nay truy tìm. Nghĩa của hai chữ Việt Nam phải được hiểu là phân vụ phải chu toàn, như khi ta nói nghĩa làm người hoặc là đạo làm người. Chữ nghĩa nầy chỉ áp dụng cho vấn nạn về con người : trong ngôn ngữ dân gian, chúng ta thường nói  nghĩa vợ chồng, nghĩa làm con hay đạo làm chồng, đạo làm con…... chẳng hạn. Liên quan đến nghĩa của nội dung cuốn Lĩnh Nam Chích Quái, tác giả là Vũ Quỳnh đã viết rõ như thế nầy trong lời tựa :
Than-ôi! Lĩnh-Nam có nhiều kỳ-trọng, các truyện làm ra không cần phải chạm vào đá, khắc vào ván mà rõ-ràng ở lòng người, bia truyền ở miệng người, ông già, con trẻ thảy đều thông-suốt, đem lòng ái-mộ, khuyên răn nhau, thời việc có hệ ở cương-thường, quan ở phong-tục, há có phải ít bổ-ích đâu?

b/ Chữ Nam trong bản văn cuốn Lĩnh Nam Chích Quái

( Trích bản văn)

Đế-Minh lập Đế-Nghi làm tự-quân cai-trị phương Bắc, phong Lộc-Tục làm Kinh-Dương-Vương cai-trị phương Nam, đặt quốc-hiệu là Xích-Quỉ-Quốc.

Kinh-Dương-Vương xuống Thủy-phủ, cưới con gái vua Động-Đình là Long-Nữ, sinh ra Sùng-Lãm tức là Lạc-Long-Quân; Lạc-Long-Quân thay cha để trị nước, còn Kinh-Dương-Vương thì không biết đi đâu.
(…)
Đế-Nghi truyền ngôi cho Đế-Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên-hạ vô-sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế-Minh nam-tuần gặp được tiên-nữ. Đế-Lai bèn khiến Xi-Vưu tác-chủ quốc-sự mà nam-tuần qua nước Xích-Quỉ, thấy Long-Quân đã về Thủy-phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu-Cơ cùng với bộ-chúng thị-thiếp ở lại hành-tại. Đế-Lai chu-lưu khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình-thế, trông thấy kỳ-hoa dị-thảo, trân-cầm dị-thú, tê-tượng, đồi-mồi, kim-ngân, châu-ngọc, hồ-tiêu, nhũ-hương, trầm-đàn, các loại sơn-hào hải-vị không thứ nào là không có; khí-hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế-Lai ái-mộ quá, quên cả ngày về.
(…)
Lạc-Long-Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu-Cơ ở một mình, dung-mạo đẹp lạ-lùng, yêu quá, mới hóa ra một chàng nhi-lang phong-tư mỹ-lệ, tả-hữu thị-tùng đông-đảo, tiếng đàn ca vang đến hành-tại. Âu-Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long-Quân bèn rước nàng về núi Long-Trang.

(…)
Âu-Cơ ở với Lạc-Long-Quân giáp một năm, sinh ra bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai; nàng đem về nuôi-nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự-nhiên trường-đại, trí-dũng song-toàn, ai cũng úy-phục, bảo nhau đó là những anh em phi-thường.

Qua đoạn văn trích dẫn, chúng ta có được một trực giác về ý nghĩa nhân tính của Bách Nam, những con người nguyên thủy được tạo dựng trong ánh sáng của chân lý : Bách Nam sinh ra từ 100 trứng, là hoa trái của tương giao giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ  (Trời và Người). Bách Nam vượt lên trên muôn sinh vật của vũ trụ (linh ưu vạn vật) : không phải cho ăn, cho bú mà tự-nhiên trường-đại, trí-dũng song-toàn, ai cũng úy-phục, bảo nhau đó là những anh em phi-thường.

Nam đối nghịch với với Bắc. Đối với người ở vùng bắc bán cầu như chúng ta, Nam tượng trưng vùng đất có mặt trời ban sự sống và ánh sáng. Bắc tượng trưng cho bóng tối và cõi chết (nơi cư ngụ của Đế Lai, kẻ thù của Lạc Long Quân).

Phương Nam là nước Xích Quỉ, là cộng đồng của giống thần thiêng : từ hán-việt Xích có nghĩa là hơi ấm của mặt trời; từ Quỉ không phải là quỉ ma (satan, diable) như ta hiểu ngày nay, nhưng là giống thần thiêng (có thể dịch qua pháp ngữ là esprit)
Phương Nam là quê của Sùng Lãm ((Sùng là cao trọng đáng tôn kính bên trong, Lãm là đẹp đẽ xuất hiện ra bên ngoài), của Lạc-Long-Quân (Lạc :  gợi lên hạnh phúc viên mãn (= Mỹ),  Long :  nguồn gốc thần thánh (= Chân), Quân :  điều hành công minh, xử lý tốt lành cuộc sống (= Thiện).

Nơi phương Nam, Âu Cơ (Âu là nhớ nhung Ai; Cơ là lo toan việc nầy việc kia; Âu Cơ tượng trưng cho hiện sinh con người) là con người trước đây từng bị Đế Lai (tượng trưng cho chấp ngã, dục vọng của quyền lực cá nhân, ham mê của cải vật chất  ... ) khống chế, nay được Lạc Long Quân (tượng trưng cho chiều kích Trời hay Thần,  hoặc là Chân Thiện Mỹ) đưa vào cùng chung sống nơi quê hương Thần Thánh (Long Trang)…...

Nơi phương Nam, con người được khai sinh bởi mối tương giao giữa Âu-Cơ và Lạc-Long-Quân ; từ mối tương giao nguyên thủy và nền tảng đó con người nối kết với con người trong mối tình huynh đệ.

Qua những hình ảnh tượng trưng dồn dập nói đến lý lịch thần thiêng của con người, Nam trong hai chữ Bách Nam ở câu kết của bản văn là nói đến chiều kích LINH THIÊNG của nhân tính ban cho mọi người, không loại trừ một ai.

(Ở doạn văn nầy cũng như ở phần sau (trừ câu kết), chữ VIỆT không minh nhiên viết ra thành văn. Nhưng trong ngôn ngữ hán-việt, VIỆT có nghĩa là vượt qua, vươn lên, đưa lên cao ..., do đó, một khi Bách Nam là con người được Thần (Lạc Long Quân) nâng lên hàng linh thiêng, được giải thoát khỏi bóng tối và sự chết (giải thoát khỏi gông cùm của Đế Lai) thì Bách Nam ấy cũng hàm ngụ là  Bách Việt.)

c/ Chữ Việt trong bản văn cuốn Lĩnh Nam Chích Quái

Nếu con người từ nguyên thủy [từ lý lịch căn nguyên=  nhân chi sơ = con người ở vườn địa đàng (x. Sách Sáng Thế của Do-thái giáo và Kitô giáo)] là Bách Nam, thì thực tại hay hiện sinh con người là một thân thế tranh tối tranh sáng. Một mặt vì Thần (Lạc Long Quân) mà con người phải nối kết luôn ẩn mặt, luôn là KẺ KHÁC (không ai thấy Thần, Thần vô phương), mặt khác con người mang gánh nặng kinh hoàng của tự do và luôn bị bóng tối và sự chết (Đế Lai, phương Bắc) kềm hãm.

Bản văn viết :
Long-Quân ở lâu dưới Thủy-phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc-quốc liền đi lên biên-cảnh; Hoàng-Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân-binh trấn-ngự quan-tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long-Quân:
- Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ.
Long-Quân hốt-nhiên lại đến, gặp hai mẹ con ở  Tương-Dạ; Âu-Cơ nói :
- Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm trai mà không có gì cúc-dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng không vợ, một mình vò-võ.
Long-Quân bảo :
- Ta là loài rồng, sinh-trưởng ở thủy-tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm-dương hợp lại mà có con nhưng phương-viên bất-đồng, thủy-hỏa tương-khắc, khó mà ở cùng nhau trường-cửu. Bây giờ phải ly-biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy-phủ phân-trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai-trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.

Thủy-phủ ở đây là hình ảnh của cảnh vực bên kia bờ, là chiều kích siêu nhiên vượt lên trên thời gian không gian làm khung cho sự hiểu biết của con người. Khi nói Long-Quân ở lâu dưới Thủy-phủ có nghĩa là nói đến Thần vô phương, Thần Linh vượt lên trên trật tự mà sức con người có thể đo lường, khai phá. Nói cánh khác, con người thực tế trước mắt (hiện sinh), tuy mang ấn tích thần thánh trong mình, nhưng đang bị ràng buộc bởi thân phận đang gặp nguy cơ : chiều kích linh thiêng, mở ra với AI  KHÁC thì ẩn kín, tưởng như xa vời (mẹ con ở một mình), trong lúc dục vọng chỉ tìm mình, chỉ biết mình và tham lam vật nầy vật khác  (nhớ về Bắc-quốc) thì rình rập không ngơi.

Nếu ở phần đầu, Bách Việt có nghĩa là con người được Kẻ Khác ban phần linh thiêng vượt lên trên mọi sinh vật trong trời đất, hoặc con người được Thần nâng lên hàng thần thánh, thì về phần mình, trong thực tại làm người của bất cứ ai, phận vụ hoàn thành nhân tính của mỗi người (hoặc NGHĨA làm con người) lại là luôn nhớ Long-Quân và thân thế nguyên sơ của mình ở phương Nam. Nỗi nhớ nầy là ấn tích nguyên sơ, là Đại Ký Ức (ở bên trên mọi ký ức bình thường) làm nên nguồn suối sâu kín trong tâm con người . Nỗi nhớ ấy  là Nền Cao Cả ở trong Tâm (Hoàng Đế) vừa có sức can ngăn con người không cho nó rơi vào sự ác (phương Bắc, Đế Lai), vừa nhắc con người nhớ Lạc-Long- Quân nơi phương Nam ẩn kín.

Đi vào Đại Ký Ưc để vượt lên thân phận bị trói buộc bởi phương Bắc, bởi Đế Lai (vốn là chính dục vọng chấp ngã, chỉ biết mình, phe mình, có nhiều vật cho mình) để tìm về  Thủy- tổ phương Nam, nơi con người được nâng lên địa vị thần linh, được mở ra với Ai Khác và nối kết với kẻ khác, nhìn nhận và yêu thương mọi người (không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, nam nữ, trẻ già .... ) trong tương giao huynh đệ cùng chung mẹ Âu Cơ, cùng được khai sinh do tình yêu không điều kiện đến từ Cha Lạc Long Quân.

Như thế, nghĩa làm người là chiến đấu vượt lên tăm tối sự ác để đi về ánh sáng của yêu thương và chân lý; nói cánh khác con người trong thực tại hiện sinh đúng nghĩa là BáchViệt.

Một khi ánh sáng và nguồn suối khai nguyên con người là phương Nam, một khi con người ban sơ, nguyên thủy là Bách Nam (người sinh ra và cư ngư ở phương Nam nầy), thì Bách Việt (con người tại thế đang vươn mình tìm về nguồn ánh sáng khai nguyên) phải nhận ra Bách Nam chính là thủy tổ của mình.

Bách-Nam là thủy-tổ của Bách-Việt vậy.

Khi cảm ứng được nghĩa làm người như thế, con người nhận ra mình thuộc một giống tộc Lớn, Cao cả  (Hồng), ôm trọn được mọi người (Bàng) : con người đó  thuộc họ Hồng Bàng.

Theo Vũ Quỳnh, nghĩa của hai từ Nam và Việt như thế đã được tổ tiên  cảm nhận từ nơi thâm cung tấm lòng của mỗi người  (không cần phải chạm vào đá, khắc vào ván mà rõ-ràng ở lòng người = Đạo Tâm) và phải được chuyển đạt cho con cháu.

Xuyên qua huyền thoại họ Hồng Bàng, con cháu nên tiếp nhận nghĩa nầy như Văn Hiến hay Cương Thường dẫn lối cho cuộc sống :
Ông già, con trẻ thảy đều thông-suốt, đem lòng ái-mộ, khuyên răn nhau, thời việc có hệ ở cương-thường, quan ở phong-tục, há có phải ít bổ-ích đâu ?

2. Định hướng sinh hoạt văn hóa trong bối cảnh của lịch sử dăn tộc Việt Nam

Trước phát biểu về định hướng cho sinh hoạt văn hóa, tôi xin dừng lại một chút để nói đến tiền kiến tiêu cực về nội dung cụm từ thường được nhắc đi nhắc lại trong thời gian gần đây, đó là « văn hóa dân tộc VN». Tôi gọi là tiền kiến vì nhiều người nêu lên nội dung nầy làm như văn hóa dân tộc VN chỉ là  một  thực thể  thuần khiết, lý tưởng, bất biến, có từ muôn đời, ở bên ngoài thời gian và không gian.

Kỳ thực «văn hóa dân tộc VN» có một cấu trúc gồm hai phần gắn liền với nhau.

Một mặt nó xây dựng trên nền tảng bất biến là Chân Thiện Mỹ (qua hình ảnh Lạc Long Quân)
làm nên cấu trúc căn nguyên của nhân tính vốn không do lịch sử và bàn tay con người làm ra và quyết định; chính nền tảng đó là hồn sống, là cương thường  (như Vũ Quỳnh đã nhắc đến trong lời  tựa cuốn Lĩnh Nam Chích Quái) cho sinh hoạt  của bất cứ cộng đồng nào cộng đồng nào của nhân loại, trong đó cộng đồng dân tộc VN. Chính vì xác tín được cương thường chung của toàn nhân loại (một nhân tính chung cho mọi người bất cứ ở đâu và bất cứ thời đại nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào) mà mỗi nền văn hóa, trong đó có «văn hóa dân tộc VN», không những biện minh cho TÍNH văn hóa của mình, mà còn có thể nhìn nhận, tiếp thu, trao đổi, hội nhập giá trị của các nền văn hóa của nhân loại.

Nhưng mặt khác, cũng như bất kỳ một nền văn hóa nào, «văn hóa dân tộc VN» phải được khai sinh và còn phải được triển nở, trước hết qua lịch sử của cộng đồng với những tài năng, sáng kiến và công trình cá biệt, tiếp đến là qua những dòng trao đổi, hội nhập sinh động và liên tục với các nền văn hóa khác.

Như vậy, nói theo ngôn ngữ kinh điển, chính hai yếu bất khả phân ly - phần thể (nền tảng nhân tính chung) và phần dụng (sinh hoạt cộng đồng xuyên qua lịch sử) - làm nên căn tính của một nền văn hóa.

Nhưng cần lưu ý rằng lịch sử thì luôn sinh động và đang và sẽ diễn tiến. Do đó khó mà nói rằng một vài tập tục hay hình thức biểu lộ nào đó trong một thời kỳ quá khứ nhất định lại là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa dân tộc. Trong « văn hóa dân tộc VN » có thể có những sinh hoạt thời trống đồng, thời cha ông mang khăn đóng áo dài…nhưng những hình thức đó không thiết định được bản sắc cho toàn bộ văn hóa dân tộc VN.

[Trong một kỳ Đại Học Hè Hải Ngoại dành cho chuyên viên và sinh viên trong thập niên 90, do Trung Tâm Nguyễn-Trường-Tộ tổ chức, khi nói đến phương cách biểu lộ « văn hóa dân tộc VN », nhiều thành viên tham dự nhắc đến lối y phục khăn đóng áo dài. Một giáo sư nói đùa một cách ý nhị: Tại sao không đề nghị lối y phục mang khố vào thời « HùngVương » ! Không phải làm như thế sẽ vừa xa xưa vừa chưa pha chế với Tây Tàu hay sao ?
Đây, tuy chỉ là câu nói quá đáng, trên một bình diện nào đó, nhưng giúp người nghe ý thức được căn tính thật sự của « văn hóa dân tộc VN », vốn vượt lên bên trên và  bên ngoài những biểu lộ giới hạn như thế.]

Để dẫn chứng về việc định nghĩa cấu trúc văn hóa nói chung của một cộng đồng nào bất kỳ (trong đó có cộng đồng người Việt chúng ta) mà tôi đã sơ phác như trên, tôi xin đưa ra ba đoạn văn của các tác giả VN đã mặc nhiên đề cập đến văn hóa, những tác giả mà cộng đồng người Việt chúng ta xem là đáng tin cậy trong lãnh vực nầy :

- Bản văn Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam Chích Quái  của Vũ Quỳnh (thế kỷ 15-16) ;
- Truyện Kiều của Nguyễn Du ;
- Phàm lệ cuốn Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu (thế kỷ 20). 
* Bản văn Truyện Họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam Chích Quái  được chia làm hai phần : Phần thể và phần dụng.

Phần thể ở phần đầu, được viết xuyên qua những hình ảnh của huyền thoại, nhằm gợi lên những cấu trúc siêu nhiên ghi sâu trong lòng người, vượt thời gian, không gian, làm nền cho nhân tính. Vũ Quỳnh gọi tên phần thể nầy là CƯƠNG THƯỜNG ; trong bài tựa cuốn Lĩnh Nam Chích Quái, tác giả viết :

Than-ôi! Lĩnh-Nam có nhiều kỳ-trọng, các truyện làm ra không cần phải chạm vào đá, khắc vào ván mà rõ-ràng ở lòng ngýời, bia truyền ở miệng người, ông già, con trẻ thảy đều thông-suốt, đem lòng ái-mộ, khuyên răn nhau, thời việc có hệ ở cương-thường, quan ở phong-tục, há có phải ít bổ-ích đâu?

Phần thứ hai là phần dụng với những tên gọi có nét lịch sử và địa lý nhất định, những phong tục tập quán cá biệt của một cộng đồng dân tộc.

Văn hóa được mặc nhiên định nghĩa như là một sự nối kết bất phân ly giữa thể và dụng, trời và đất :

Bây giờ phải ly-biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy-phủ phân-trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai-trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau. (Trích Truyện Họ Hồng Bàng của Lĩnh Nam Chích Quái)

Cũng nơi bản văn nầy, bản văn mà tôi đánh giá như là một « Sách Sáng Thế » của văn hóa VN, chúng ta chứng kiến trước hết trực giác của tổ tiên về nền tảng về nhân tính, tiếp đó là tài năng sáng tác độc đáo về mặt văn chương với những cảm xúc tâm lý, những hình ảnh liên hệ đến khung cảnh địa lý, sinh hoạt kinh tế xã hội… . Nhưng bên cạnh đó, bản văn có vô số những hình ảnh, điển tích của hai nền văn hóa lớn trong vùng (văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa). Một cách mặc nhiên, tác giả Vũ Quỳnh cho rằng việc « hội nhập » nầy không phi bác bất cứ điểm nào về bản sắc « văn hóa dân tộc VN » của bản văn, trái lại nó phản ảnh tinh thần vô chấp và khai phóng của nền văn hóa chúng ta. Thực vậy, Trong truyện Bạch Trĩ của cùng cuốn sách nầy#, Vũ Quỳnh ghi lại cuộc đối thoại có tính cách huyền thoại và tượng trưng giữa Chu Công (là vị thầy của Khổng Tử) với sứ giả nước ta, để biện minh cho giá trị  « văn hóa dân tộc VN » của cuốn Lĩnh Nam Chích Quái :

Chu-Công hỏi :
- Vì sao mà đến đây ?
Sứ-giả thưa :

Trời không gió lớn mưa dầm, biển không nổi sóng nay đã ba năm, ngỡ là Trung-quốc có thánh-nhân nên mới sang đây. (Trích Truyện Bạch Trĩ của Lĩnh Nam Chích Quái)

Thánh nhân, con người đặc biệt đó là người chu toàn nghĩa làm người vốn vượt biên giới chủng tộc, lịch sử…
Đến gặp gỡ thánh nhân ở phương bắc, phương đông hay phương tây…, thánh nhân thời xưa hay thời bây giờ…học hỏi, hội nhập và thực thi các giá trị cao cả làm cho con người thành thánh, đó không phải là nhìn nhận niềm tin vào nền tảng cao siêu và bất biến của nhân tính của bất cứ ai là người hay sao? Đó không phải là xác tín mối tương giao nhân loại và tinh thần liên đới, đồng trách nhiệm cùng nhau hoàn thành nhân tính hay sao ? Đó không phải là thực thi đạo lý căn nguyên « tứ hải giai huynh đệ, trăm con trên trái đất nầy cùng sinh ra từ một bào thai chung » hay sao ?
- Nguyễn Du# là một nhà văn hóa dân tộc, khi truyện Kiều của thi hào đã dấy lên nơi tâm thức của người Việt qua nhiều thế hệ một nguồn cảm hứng thi ca#. Nhưng phải chăng truyện Kiều ấy được tiếp nhận là một gia sản văn hóa dân tộc chỉ vì nó phản ảnh tài làm thơ mô tả sâu sắc cảnh tình cảm nam nữ lứa đôi, hoặc tài viết truyện ghi lại đầy đủ nhưng sinh hoạt kinh tế, xã hội của cộng đồng người Việt vào đầu thế kỷ 19 ? Hoặc phải chăng vì truyện Kiều của Nguyễn Du chỉ là một bản phỏng dịch từ một truyện Tàu qua tiếng Việt# mà nay cần xét lại giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc của bản văn ? Cách nầy hay cách khác, không thiếu những nhà phê bình văn học đã đánh giá truyện Kiều của Nguyễn Du xuyên qua những chuẩn mực đại loại như thế.
Nhưng bên trên và bên ngoài những khen chê của các trào lưu văn học, đặc biệt trong thế kỷ 20 và những năm tháng gần đây, lời thơ của truyện Kiều luôn là nguồn cảm hứng của bất cứ tầng lớp nào trong cộng đồng người Việt : là lời ru con, là châm ngôn trong câu truyện hằng ngày, cũng là dấu tích lời thần thánh để bói toán, hoặc là lời diễn đạt minh triết… Như thế, sự kiện cộng đồng người Việt tiếp nhận truyện Kiều của Nguyễn Du như là một gia sản văn hóa không phải vì, xuyên qua bản văn ấy, cộng đồng người Việt tiếp cận được Đại Ký Ức của dân tộc mình, luôn nhớ cương thường làm nên cuôc sống văn hóa của mình và cố gắng áp dụng vào bất cứ sinh hoạt nào của mình hay sao? Không phải Kiều của Nguyễn Du cũng như Âu Cơ của Vũ Quỳnh đã cưu mang được Đại Ký Ức của dân tộc, đã trực giác được nghĩa của cuộc sống làm người (trăm năm trong cõi người ta), vừa bị trói buộc của Tài (kiếp hồng nhan = nghiệp phải bị ràng buộc với Đế Lai qua hình ảnh Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải), vừa ấp ủ hy vọng cứu độ của Mệnh (lắng nghe lời Đạm Tiên, gắn bó với Giác Duyên = tương giao gắn bó với Lạc Long Quân, hoặc đêm ngày NHỚ Long Quân) hay sao ? Không phải chính vì trực giác và diễn tả được nghĩa của nhân tính của mọi người trong mọi thời đại như thế mà nhà văn hóa của dân tộc Việt Nam Nguyễn Du cũng được các dân tộc khác trên thế giới chân nhận là nhà văn hóa, là người hiền của nhân loại hay sao# ?

Trong phàm lệ giới thiệu về cuốn Khổng Học Đăng, Sào Nam Phan Bội Châu viết :

"Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu? Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mồi để hốt gạt mề đay kim-khánh đâu...!
Hễ ai đọc bản sách nầy, trước phải lập định một cái chí khí tự nhiên rằng: "Ta là Khổng Tử, ta là Mạnh Tử, ta là Bá Lạp Đồ (Platon), ta là Khang Đức (Emmanuel Kant), chẳng qua đời tuy có xưa nay, đất tuy có đông tây, mà tâm lý in như nhau, thánh hiền tức là ta, ta tức là thánh hiền; ta chỉ là người hậu tiến của cổ nhân mà thôi. Có chí khí ấy thời đọc quyển sách nầy mới thích.
Nếu ai chưa đọc sách nầy mà trước đã có một ý kiến sẵn: định làm nô lệ cho người đời xưa, hay định làm nô lệ cho người đời nay thời xin chớ đọc.

(… )

Mục đích người làm bản sách nầy là cốt phù trì nhân đạo; nếu ai không để lòng vào nhân đạo thời xin chớ đọc"#.

Cũng như Vũ Quỳnh và Nguyễn Du, Phan Bội Châu chân nhận nền tảng văn hóa là nhân đạo, là cương thường hay thể chung cho mọi người, mọi nơi mọi lúc ; nhưng nhân đạo đó được khai sinh, được diễn tả, được thực thi do những con người, những cộng đồng khác nhau trong những thời đại khác nhau; cũng vì thế nhìn bên ngoài (qua cách diễn tả và qua lịch sử) lại có những nền văn hóa khác nhau, những học cũ, học mới.
Cũng như Vũ Quỳnh và Nguyễn Du, Phan Bội Châu cho rằng tinh hoa của văn hóa được cưu mang bởi hình ảnh của thánh hiền# là di sản chung của nhân loại : thánh hiền tức là ta, ta tức là thánh hiền, vì đằng sau những học cũ, học mới của các vị là nhân đạo chung của mọi người trong đó có ta.

Nhưng truyền thống dân tộc gắn liền nội dung của sinh hoạt văn hóa với thánh nhân, thánh hiền, đạo làm người đã hụt hơi kể từ những đổi thay của xã hội Việt Nam vào giữa tiền bán thế kỷ 20. Cuộc tranh cãi về học cũ - học mới như Phan-Bội-Châu đã nói đến, những nghiên cứu rất có giá trị về cổ học và nhân chủng học … của Trường Viễn Đông Bác Cổ, những trào lưu canh tân xã hội v.v., tất cả vốn là những sinh hoạt bên ngoài của văn hóa, đã bị đồng hóa là toàn bộ sinh hoạt văn hóa. Từ đó, TÍNH hay hồn của văn hóa như bị lãng quên. Trước hiện tượng đứt đoạn đó của truyền thống văn hóa dân tộc, Phan-Bội-Châu đã mạnh mẽ lên tiếng cảnh giác như ta đọc thấy trong mấy hàng trích từ Phàm Lệ cuốn Khổng Học Đăng ; tác giả Lê-Văn-Siêu trong cuốn  Việt Nam Văn Minh Sử Cương  còn nói rõ hơn : “chỉ lưu ý tới phần xác của nó lắm khi khô khan và trơ trẽn”#. Trong một bối cảnh như thế, cuốn Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào-Duy-Anh được cho xuất bản. Ngay chương đầu, tác giả đi ngay vào định nghĩa thế nào là văn hóa. Tôi nhắc đến cuốn sách nầy và định nghĩa nầy về văn hóa vì các tác giả nghiên cứu sinh hoạt văn học Việt Nam từ gần một thế kỷ qua thường trích dẫn chúng như một tài liệu cổ điển có giá trị đối chiếu.

Cuốn sách xuất bản sau cuốn Khổng Học Đăng của Phan-Bội-Châu chưa đến mười năm, nhưng nội dung định nghĩa văn hóa của đôi đường hoàn toàn cách biệt.

Theo Đào-Duy-Anh:

Người ta cho rằng văn hóa chỉ là những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy. Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng : Văn hóa tức là sinh hoạt.
Văn hóa đã tức là sinh hoạt thì không kể là dân tộc văn minh hay dã man đều có văn hóa riêng của mình, chỉ khác nhau về trình độ cao thấp mà  thôi. Ví dụ văn hóa của các dân tộc Âu Mỹ thì cao, mà văn hóa của các dân tộc mọi rợ Phi châu, Úc châu cùng các giống người Mường, Mán Mọi ở nước ta thì thấp.
Vì lẽ gì văn hóa của các dân tộc khác nhau như thế? Vì rằng các sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau. Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau vậy. Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xét xem dân tộc ấy sinh trưởng ở trong những điều kiện địa lý thế nào.
Các điều kiện địa lý có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của người ta, song người là giống hoạt động cho nên trở lại cũng có thể dùng sức mình mà xử trí và biến chuyển những điều kiện ấy cho thích với những điều cần thiết của mình. Cách sinh hoạt vì thế mà  cũng biến chuyển và khiến văn hóa cũng biến chuyển theo (...)#

Trước hết Đào-Duy-Anh có công khi phân biệt một hình thái sinh hoạt văn hóa là học thuật tư tưởng với nội dung văn hóa nói chung. Trong quan điểm hời hợt của quần chúng, nhất là vào một thời có tranh cãi về  học cũ- học mới để có thêm kiến thức làm việc nầy việc nọ, nhất là để làm quan, làm giàu như Phan-Bội-Châu từng nêu lên, thì việc phân biệt như thế rất có giá trị.
Nhưng theo truyền thống văn hóa của cộng đồng người Việt mà Vũ Quỳnh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu trước đó phản ảnh, một truyền thống chân nhận thánh nhân, thánh hiền là nguyên tượng của văn hóa, thì đâu có hiện tượng xếp văn hóa trong khuôn khổ giới hạn của học thuật tư tưởng. Không phải Vũ Quỳnh# từng định nghĩa văn hiến là cương thường phát xuất từ tâm con người làm giềng mối cho bất cứ sinh hoạt nào của cuộc sống con người hay sao ? Trong tâm thức người Việt Nam, ngữ nghĩa của từ thánh nhân, thánh hiền không nhằm nói đến người có nhiều kiến thức, những người lập thuyết hay biện luận giỏi, nhưng gợi lên hình ảnh người tuân thủ đạo làm người trong bất cứ sinh hoạt nào của mình.

Như thế các bậc tiền bối và Đào-Duy-Anh đều có chung quan điểm không cho rằng văn hóa chỉ là học thuật được hiểu là các lý thuyết, các loại kiến thức và kỹ năng... mà là toàn bộ sinh hoạt của con người.

Nhưng trong phần tiếp của đoạn văn nhằm giải minh đâu là nền, là thể làm cho sinh hoạt con người mang TÍNH văn hóa, và do đâu có sự khác biệt của các nền văn hóa, thì rõ ràng quan điểm của Đào-Duy-Anh đã tự tách ra khỏi truyền thống dân tộc và tâm thức sâu kín của người Việt mà văn học bình dân cũng như các tác phẩm văn chương của các hiền nhân tiền bối phản ảnh. Mẫu người văn hóa của Đào-Duy-Anh không còn là thánh nhân, hiền nhân, người tuân giữ Đạo Làm Người (= nhân đạo) qua mối tương giao “linh ư vạn vật” mà mối tình Âu-Cơ và Lạc-Long-Quân gợi lên và qua mối tương giao huynh đệ “trăm con cùng chung một bào thai” ;  mẫu người văn hóa mới không còn là kẻ “trọng nghĩa khinh tài”, cũng không còn là người chiến sĩ của cuộc chiến giữa Tài và Mệnh, giữa Tài và Tâm, nhưng là con người kinh tế đấu tranh với thiên nhiên địa lý để kiếm ăn và đấu tranh kinh tế với đồng loại để sống còn. Con người văn hóa và các nền văn hóa nay được định chuẩn qua cuộc chiến chế ngự thiên nhiên và tranh chấp giữa người với người về kinh tế. Họ sẽ được xếp loại cao thấp qua kết quả thành công hay thất bại theo thước đo mà các thánh hiền Trung Hoa và Hy Lạp gọi là Đạc Điền (= Đo đất) hoặc Géométrie, còn văn hóa truyền thống Việt Nam gọi là tương quan Âu-Cơ và Đế Lai (= con người thuần kinh tế đi tìm, chiếm giữ và hưởng thụ của cải riêng cho mình). Với thước đo văn hóa dựa trên việc chinh phục và khai thác thiên nhiên (địa lý) như thế, Đào-Duy-Anh đã đánh giá văn hóa của các dân tộc Âu Mỹ thì cao, mà văn hóa của các dân tộc mọi rợ Phi châu, Úc châu cùng các giống người Mường, Mán Mọi ở nước ta thì thấp.

(Không biết có phải vì cuốn sách của Đào-Duy-Anh là một trong những cuốn sách đầu tiên trong văn học Việt Nam (?) minh nhiên nêu lên hai chữ văn hóa và được trình bày có hệ thống, hoặc còn do nhiều lý do khác nữa, mà nhiều sách nghiên cứu văn hóa về sau thường nêu định nghĩa từ cuốn sách nầy như một tiền đề mặc nhiên. Và sự kiện đó không phải là chuyện đương nhiên của giới nghiên cứu văn hóa chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật, duy vật biện chứng... nhưng điều đáng ngạc nhiên là ngay cả những người không cùng quan điểm nếu không nói là phi bác chủ nghĩa nầy thì cũng trích dẫn Đào-Duy-Anh như một đề nghị tích cực.)

Phải chăng việc bứng gốc căn tính của văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam nằm trong một bối cảnh lịch sử xã hội quá đặc biệt vào tiền bán thế kỷ 20 ? Trong cách nhìn sinh hoạt văn hóa thuần túy dự trên bối cảnh xã hội, kinh tế, chính trị ... mà Đào-Duy-Anh đã gợi lên một cách khá đầy đủ, có thể đưa ra giả thuyết rằng sự rút lui của căn tính của văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, trước hết là do chính hoàn cảnh lịch sử xã hội riêng của cộng đồng Việt Nam lúc bấy giờ. Khi phải chung đụng với một cường quốc thực dân Tây phương vốn tự tôn vinh họ là một dân tộc có văn hóa cao, tâm thức và sinh hoạt văn hóa của người dân mình, đặc biệt là giới có trách nhiệm, vì tư ái dân tộc, đã có những phản ứng hoặc tự tôn hoặc tự ti để rồi chủ trương bảo thủ lối cũ của cha ông hay canh tân theo nếp sinh hoạt Tây phương; điều mà Phan-Bội-Châu gọi là học cũ và học mới. Tiếp đó cũng phải lưu ý thêm về ảnh hưởng của trào lưu của Thời Đại Tân Kỳ (Les Temps Modernes) khai sinh và phát triển trong xã hội Tây phương vào hậu thế kỷ 19 và phổ biến trên thế giới vào tiền thế kỷ 20... Những nhà nghiên cứu có thể còn đưa ra nhiều dữ kiện khác nữa để dẫn chứng và biện minh cho sự đổi thay nầy. Nhưng tất cả những nghiên cứu đó đều đặt nền tảng trên một tiền kiến về căn tính của văn hóa đại loại như Đào-Duy-Anh đã diễn tả. Nói cách khác, nếu dùng lối nói của Phan-Bội-Châu thì những nghiên cứu, những tranh luận liên quan đến sự đổi thay “cái học cũ, cái học mới” vốn đã quên lãng căn tính của văn hóa, căn tính được Phan tiên sinh gọi là nhân đạo.

Theo Phan tiên sinh, sự đổi thay nầy không phải là một đổi thay về hình thái, về phương cách biểu lộ hay phần dụng của nhân đạo tùy thuộc vào hoàn cảnh tâm lý, xã hội, địa lý chính trị... nhưng là sự lãng quên hay đúng hơn là đánh mất hồn hay căn tính của văn hóa, đó là nhân đạo.

Vào thế kỷ 15 và 16, Vũ Quỳnh trong Lĩnh Nam Chích Quái  thì ví sự đổi thay nầy như việc Âu-Cơ quay lại với Đế Lai ở Phương Bắc và quên đi mối tương giao với Lạc Long Quân là cha của 100 người con nhân loại. Văn hóa lúc bấy giờ không còn là tương giao với Long Quân ẩn kín mà hiện thân là Âu-Cơ, người Mẹ nuôi dưỡng đàn con bằng sữa NHỚ của mình trong bất cứ sinh hoạt nào của cuộc sống (xem phần hai của truyện Họ Hồng Bàng). Rõ nét hơn nữa, trong truyện Bạch Trĩ, qua lời đối đáp của sứ-giả của Hùng-Vương với Chu-Công, Vũ Quỳnh nhắc nhỡ rằng căn tính của văn hóa hay đạo làm người mà hình ảnh tượng trưng là thánh nhân vượt lên trên những hình thái bên ngoài của sinh hoạt xã hội, chính trị, kinh tế... :

Thời Thành-Vương nhà Chu, Hùng-Vương sai sứ-thần đem qua dâng cho nhà Chu giống chim bạch-trĩ, nhưng ngôn-ngữ bất-thông. Chu-Công sai người dịch lại mới hiểu.
Chu-Công hỏi rằng :
- Người Giao-Chỉ cắt tóc, vẽ hình, để đầu trần, ngón chân cong, là tại làm sao ?
Sứ-giả thưa rằng :
- Cắt tóc để tiện vào rừng; vẽ mình để làm hình rồng, khi lặn lội dưới nước thì giao-long không dám phạm đến; chân cong để tiện trèo cây, cày dao, đốt lửa, gieo lúa; đầu trần để khử nóng bức, ăn cau trầu để trừ ô-uế và làm cho răng đen.
Chu-Công hỏi :
- Vì sao mà đến đây ?
Sứ-giả thưa :
- Trời không gió lớn mưa dầm, biển không nổi sóng nay đã ba năm, ngỡ là Trung-quốc có thánh-nhân nên mới sang đây. (Trích Truyện Bạch Trĩ của Lĩnh Nam Chích Quái)

Nếu đọc lại Truyện Kiều của Nguyễn Du, thì văn hóa theo định nghĩa của Đào-Duy-Anh là Tài quên Tâm, là Kiều “đào hoa” sinh hoạt với Sở Khanh, với Thúc Sinh, với kinh kệ bên ngoài trong khuôn viên gia đình do Hoạn Thư sắp xếp, với Từ Hải ... mà quên đi một Kiều đã chết đi Tài, vượt lên trên kiếp đào hoa để tìm lại Tâm khi tiếp cận với Giác Duyên (= Ơn Cứu Độ) trên sông Tiền Đường.

“Tâm, thánh nhân, thánh hiền, nhân đạo, hồn của văn hóa”  vắng bóng trong sinh hoạt văn hóa hầu như chính thức kể từ giữa thế kỷ 20 đến nay. Không phải dấu tích sinh hoạt của con người về tài trí (homo sapiens), về khả năng lao động chế ngự và quản lý thiên nhiên địa lý (homo faber), nhưng sáng kiến và hình thức hưởng dụng tài vật, những thú vui giải trí tiêu khiển (homo ludens) là không có chút giá trị văn hóa nào. Nhưng xin lập lại lời của Lê-Văn Siêu : “chỉ lưu ý tới phần xác của nó lắm khi khô khan và trơ trẽn”.


Đến đây, chúng ta tự hỏi khi nêu lên vấn đề định hướng cho sinh hoạt văn hóa, cổ súy văn hóa dăn tộc …, thì chúng ta có cần tiếp tục đưa thêm một nét riêng nào đó trong nếp sinh hoạt của cộng đồng người Việt, một nét riêng trong muôn ngàn sinh hoạt như Đào Duy Anh gợi lên, để chủ trương sinh hoạt ấy là thiết yếu như thiên hạ thường làm hay không ?

Hay chúng ta đề nghị với nhau trước hết nên cố lắng nghe những bậc tiến bối  là phát ngôn tâm hồn văn hóa của cha ông chúng ta xem họ cảm nhận ý nghĩa của văn hóa như thế nào.

NGUYỄN ĐĂNG TRÚC
(Nguồn VCV)

NHÀ THƠ TRẺ HOÀNG TRỌNG MUÔN: 90% THANH NIÊN NÔNG THÔN QUÊ TÔI KHÔNG BIẾT LÀM NGHỀ NÔNG


Nói thật, có thả bọn thanh niên làng tôi ra đường tự bươn trải thì hầu hết sẽ chết đói, nếu không cũng trộm cắp, cướp giật, con gái thì nhiều đứa sẽ thành gái bao vì mới lớp 5, lớp 6 đã biết dùng điện thoại di động để xem phim sex, chụp hình, nhắn tin, biết chưng diện, biết vào mạng chat chít. Lớp 6, lớp 7 đã yêu đương lăng nhăng, có đứa còn bỏ nhà qua đêm mấy ngày hết tiền mới về. Chuyện học hành đã có nhà trường lo cả vì họ cần thành tích.

Nhà thơ trẻ Hoàng Trọng Muôn.

Quê tôi đất nông nghiệp chính cống. Hầu hết đều là nông dân và nghề chính là làm ruộng, chăn nuôi. Nghề phụ rất ít, nghề dịch vụ, tự do cũng chỉ chủ yếu vào lúc nông nhàn. Đất đai cũng không bị mất nhiều vì công nghiệp hoá hay các sân golf như nhiều nơi khác nhưng phải thừa nhận rằng, hầu hết thanh niên ở đây đều không biết, thậm chí chưa bao giờ phải đụng tay đụng chân làm các công việc đồng áng, chăn nuôi, các công việc của nhà nông, của nông dân.
Vì thế tôi thấy khá buồn khi nhiều bài báo, nhiều người viết chỉ nhìn thấy việc nông dân mất đất, mất việc, trong khi quê tôi ruộng đất còn khá nhiều thì lại không có nhiều người làm, không có mấy ai mặn mà với đồng ruộng và lực lượng lao động chính ở nông thôn hiện nay là thanh niên thì hầu hết chẳng biết làm gì, càng không thể làm nông nghiệp. Vì thế, tương lai của nông thôn, của nông dân quê tôi có lẽ không phải là nông nghiệp.
Nhà tôi vẫn cấy ruộng. Dù đã cho người khác cấy khá nhiều do không có người làm thì cũng còn đến gần 5 sào, một năm cấy 2 vụ lúa nước và một vụ trồng cây màu, chủ yếu là ngô bao tử xuất khẩu, dưa chuột và ớt xuất khẩu. Tôi hàng chục năm nay vẫn sống ở nông thôn, vẫn làm ruộng, vẫn chăn nuôi khá nhiều gia cầm, cả nuôi lợn nữa nhưng đúng là chính bản thân tôi cũng đang ngại và hầu như không động chân động tay đến công việc nhà nông.
Cánh trẻ hơn, từ độ 30 tuổi trở xuống, đang tuổi thanh niên nhưng thường ngày vẫn thấy chúng vật vờ la cà quán sá hoặc ngồi nhậu nhẹt, hoặc tán gẫu ngoài đường. Chúng chẳng biết làm gì vì hầu hết bố mẹ chúng đều không cho chúng làm gì cả, chỉ phải lo học, học thật giỏi, tốn kém không thành vấn đề dù phải vay vàng, vay tiền nặng lãi. Miễn là học đại học, cao đẳng cũng được chứ không chịu học Trung cấp mấy khi và trong thâm tâm, trong lời dạy con cái của họ bao giờ cũng là phải thoát ly nông nghiệp, phải xa làng xóm, phải không được “bám đít con trâu” nữa dù hiện nay, máy móc khá nhiều và con trâu cũng chỉ chủ yếu nuôi để mổ lấy thịt bán. Thế nhưng khổ nỗi, nhiều thằng không thể thành thiên tài được dù bố mẹ đắp vào cái đầu bã đậu của chúng hàng núi tiền với hàng trăm mối lo trả nợ.
Mấy đứa con gái thì lấy chồng cho yên chuyện đã đành, nếu không thì cũng chấp nhận làm công nhân may sau vài lần trượt thi đại học nhưng bọn con trai thì sĩ diện kinh khủng, không chịu mặc quần áo công nhân, không chịu đi học trung cấp, mà chỉ thích mặc đẹp, ăn ngon, ngồi nói khoác sau khi thi đại học đến năm, sáu năm không đậu. Với lại, sức của chúng trói gà không chặt thì làm được gì. Ra nắng một chút là ốm, bê vác gì nặng một tí là thở dốc, đụng tay vào lúa thì ngứa ngáy phải bôi thuốc suốt. Thực sự chúng chẳng biết phải làm gì, và chẳng muốn đụng tay vào việc gì, trừ một số thằng nhà quá nghèo, phải lăn lộn kiếm sống từ bé.
Hơn nữa, hầu hết chúng được nuôi dưỡng từ tính sĩ diện, háo danh và sự tính toán hết sức ngu dốt của bố mẹ chúng, những nông dân đang chán ngấy ruộng đồng, ngán tận cổ cuộc đời nông dân. Ngay cả những thằng học đại học xong, về làng sống vật vờ vì không kiếm được việc cũng chỉ biết ăn bám mấy ông bà già ngày ngày nhặt nhạnh từng trăm bạc lẻ ở những mớ rau, buồng chuối. Đến khổ thân cho những cách nghĩ về sự nhàn nhã và giàu có của những nông dân.
Tôi không hiểu sao nông dân họ nhìn những người phố thị, những người không phải làm ruộng với con mắt ngưỡng mộ thế. Họ cho rằng đó mới thực là sống, làm những nghề đó, ở những nơi đó mới là văn minh, mới kiếm được nhiều tiền, mới nhàn nhã, sung sướng. Và từ ước mơ, họ biến con cái mình thành những thực thể sống không phải lao động từ nhỏ, biến chúng thành những con chuột bạch thí nghiệm cho những giấc mơ đổi đời của mình. Ngày trước, vào mùa màng bận rộn, trẻ con ở quê như chúng tôi đã vất vả và làm quen với đồng ruộng, với chăn nuôi từ khi còn rất nhỏ. Ba, bốn tuổi đã phải ra ngồi vật vạ ngoài đồng chờ mẹ cấy, gặt xong. Nhiều khi mải chơi, ngã xuống ruộng, xuống mương, sặc sụa nước mới được vớt lên.
Nhờ thế mà cứng cỏi. Nhờ thế mà ám hơi đồng ruộng. Năm, sáu tuổi đã phải đi đun xe lúa ngoài đồng về, nếu không cũng phải ở nhà phơi lúa, ủi lúa, giở rơm cho nhanh khô và nấu cơm, nấu cám lợn, băm rau cho gia súc gia cầm… nói chung là bận tối mắt tối mũi. Tám, chín tuổi đã biết bám bờ đỗi bắt cua, tát giòn, tát nước cho ruộng, đơm đó đêm, kéo vó… nói chung là lăn lộn ngoài đồng nhiều thời gian hơn ở nhà, kể cả lúc đang đi học. Vì thế ruộng nương, chăn nuôi không đứa nào không biết. Thậm chí trong câu chuyện hàng ngày đi học còn kể toàn những chuyện đồng áng, mùa màng, chăn nuôi, công việc hàng ngày phải làm, đứa nào nhà giàu, ít phải lao động thường rất ít bạn bè, vì chẳng ai muốn chơi với bọn lười lao động.
Bây giờ thì trẻ con sướng từ bé nên khi thành thanh niên chẳng biết làm gì kiếm sống. Nói thật, có thả bọn thanh niên làng tôi ra đường tự bươn trải thì hầu hết sẽ chết đói, nếu không cũng trộm cắp, cướp giật, con gái thì nhiều đứa sẽ thành gái bao vì mới lớp 5, lớp 6 đã biết dùng điện thoại di động để xem phim sex, chụp hình, nhắn tin, biết chưng diện, biết vào mạng chat chít. Lớp 6, lớp 7 đã yêu đương lăng nhăng, có đứa còn bỏ nhà qua đêm mấy ngày hết tiền mới về. Chuyện học hành đã có nhà trường lo cả vì họ cần thành tích. Lên THPT, nhiều đứa học kém thì bố mẹ chịu khó quan tâm đến thăm thầy cô là được vì thực ra các thầy cô cũng chẳng muốn để học trò của mình học dốt, tổng kết thấp vì ai cũng muốn có thành tích cả. Còn làm ruộng thì tuyệt đối không, thậm chí nấu cơm quét dọn cũng không nốt để dành mọi thời gian tập trung cho việc học. Thế là bố mẹ cứ nai lưng ra làm, làm từ sáng đến tối, khuya mệt lăn ra ngủ chẳng biết những đứa con tài giỏi của mình làm gì.
Nhưng nhiều lúc, tôi nghĩ cũng thấy thương bọn chúng vì có muốn làm nông dân cũng chẳng có việc mà làm. Cua, cá bây giờ do phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ, trừ ốc bươu vàng đều chết hết cả, không thể kiếm dễ dàng như chúng tôi ngày trước. Ao, hồ cũng lấp cả để xây nhà, làm sân chơi… Những con mương dẫn và chứa nước có cá thì làng cho thầu hết để lấy tiền, lấy thóc kiến thiết làng xóm nên không thể ra đồng kiếm cá kiếm tôm, cua được. Ngày mùa thì đã có công nông chở lúa về, có máy phụt làm thay máy tuốt, rơm cũng vứt cả ngoài đồng, ngoài đường, lúc nào khô chỉ cần quẹt diêm làm một mồi lửa là gọn gàng chứ mấy nhà còn đun rơm nữa.
Bếp bây giờ đun củi, đun than, đun điện, đun ga cả rồi. Đun rơm chỉ tổ đau mắt, bẩn tay chân, bụi quần áo, hôi hám khắp người. Cấy hái thì có máy bơm nước, máy cày mini và hầu như thuê người làm cả. Nhiều nhà có ruộng chỉ là để góp vui với làng xóm, cho đỡ nhớ nghề, đỡ bị mọi người chê cười là bỏ ruộng, chứ còn thuê tất, chẳng phải làm gì ngoài việc phơi ít lúa, cất vào mấy chiếc thùng tôn, chuột cứ gọi là đứng mà khóc. Mà nhiều nhà bây giờ cũng bán thóc non cho hàng sáo nên chẳng phải nhọc công phơi phóng cho ngứa ngáy. Cuối vụ hạch toán không lỗ là tốt rồi.
Thế nên con gái lớn không biết gánh gồng, lưng cứ thẳng nõn nà, cầm quang gánh gánh chiếc thúng không cũng tợt cả vai, cúi xuống quét nhà thì lưng đau ê ẩm. Lội ruộng thì sợ nước bẩn, sợ đứt móng chân, sợ dẫm phải mảnh thuỷ tinh của những chai đựng thuốc trừ sâu. Con trai thì càng không thể cấy hái, chăn nuôi vì đến giặt quần áo cho mình cũng có người khác giặt hộ rồi, có tự giặt cũng chỉ nhúng nước rồi phơi lên cho bẩn thêm. Rửa chén bát thì vỡ hết, và đầy dầu mỡ bám bẩn… Nói chung là bố mẹ thấy ngứa mắt, thôi thì lên nhà học bài, chúng tao làm cố một tẹo là xong. Bài ca ấy đang góp thêm vào cuộc cách mạng lười hoá, ăn bám hoá, trơ trẽn đến đáng sợ của thanh niên nông thôn - những nông dân thời @ ở quê tôi.
Không biết đồng ruộng sau này sẽ thế nào. Chỉ sợ rằng Nhà nước muốn giữ đồng ruộng, muốn phát triển chăn nuôi để khuyến khích nông dân cũng khó vì thế hệ nông dân @ này lại kêu khổ, kêu ngại, lại không muốn làm và sớm hay muộn sẽ bán hết đồng ruộng lấy tiền chạy theo những giấc mơ phù phiếm.
HOÀNG TRỌNG MUÔN
(Hà Nam)

NGUYỄN VY KHANH: TẢN MẠN VỀ DỤC – TÍNH VÀ NỮ QUYỀN


Người xưa như tác giả Truyện Kiều, viết về chuyện tình dục là với điển tích (Ra tuồng trên Bộc trong dâu; Vòng ngoài bảy chữ vành trong tám nghề), hay dùng nghĩa bóng (Tiếc thay! Một đóa trà mi / Con ong đã mở đường đi lối về). Dục tính không thật có với văn chương cổ điển vì những tính cách ước lệ, trí thức và hình thức. Không có sáng tạo, cá tính, do đó không cần cả tác giả, phải chăng đó là một lý do của hiện tượng vô danh của tác phẩm thời xưa? 

Dục tính khác thô tục, tục tĩu, như áo mỏng dính với trần truồng, dâm thư dĩ nhiên không phải là tác phẩm văn chương. Henry Miller mà tác phẩm từng bị cấm ở quê hương của ông, trong Obscenity and the Law of Reflection đã xem dâm tục (obscenity) xuất hiện trong văn chương như một kỹ thuật, không liên hệ gì đến dâm thư (pornography). Dục tính như một giá trị chỉ nhắm đánh thức, khêu dậy, dẫn nhập, đem ý nghĩa đến cho thực tại cuộc sống . Đối với Việt Nam, dục tính chỉ thực sự xuất hiện trong văn học ở thế kỷ XX, bước đầu bởi nam giới và dục tính luôn chỉ có ý nghĩa trong một văn hóa, trong một xã hội. Dâm tính trở thành yếu tố tiểu thuyết, gia vị hấp dẫn cho tác phẩm. Thời Nhất Linh, dâm tính chỉ chớm thoáng qua, như trong truyện ngắn Tháng Ngày Qua, nhân vật Giao trọ học nhà bạn, đã dám ... để ý đến vợ bạn, "bốn mắt gặp nhau (...) cặp môi nàng mấp máy, dưới tấm áo mỏng, ngực nàng phập phồng, hai con mắt nhìn đăm đăm vào chàng có vẻ lẳng lơ, nồng nàn như đắm tình..." (1).


Các tác giả thời này kể chuyện tình yêu, nhưng ít người đi vào chi tiết làm tình hay tả chân thân thể người nam hay nữ. Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang,... từng bị kết án là khiêu dâm, thực ra họ chỉ có ý trình bày bộ mặt khác, trái, của xã hội, nêu lên những tệ hại, có ý giáo dục, hướng thượng. Phùng Nguyễn trong Bia Ôm (2) tả "đôi vú nhỏ mềm nhũn và âm hộ nhầu nát"  hình như cũng không có mục đích viết dâm thư! Trước 1975, Lê Xuyên đã bị tố viết văn khiêu dâm, trong thực tế tiểu thuyết của ông chỉ tả cảnh tả tình những hẹn hò, những ăn chơi trắc tréo dài dòng nhưng không mấy tả chi tiết cảnh làm tình; kẻ lên án chỉ chứng tỏ đạo đức giả hoặc chưa từng đọc qua.
Tạp chí Sáng-Tạo vào thập niên 1960 ở miền Nam, đã đăng nhiều truyện đầy dục tính của các tác giả về sau không đi tiếp nghiệp văn, như Duy Thanh (Khép Cửa, Thằng Khởi, Chiếc Lá,...), Thạch Chương (Tinh Cầu,..). Giải phóng tình dục “hôm nay” là một trong những chủ trương văn nghệ của nhóm. Thạch Chương tức nhạc sĩ Cung Tiến sau này lúc bấy giờ viết truyện ngắn "hiện sinh" và là lý thuyết gia cho khai phá này, trong bài "Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật" đã viết : "... Chúng tôi muốn quay lại vũ trụ hoang sơ dục tình nguyên vẹn mà tâm hồn mỗi kẻ còn trinh như sữa. Nhưng là cái tinh khiết đáng sợ của con bò rừng. Nghệ thuật hôm nay là sự biểu lộ một "furie du total", một tiếng gọi quay trở về rừng sâu thẳm mà ở đó còn vẳng lên những tiếng cười điên mê, những tiếng la cuồng dại vọng về từ trăm thế kỷ của bản năng thuần túy. (...). Nghệ thuật hôm nay còn được biểu tỏ mãnh liệt trong tình yêu ngọt ngào của xác thịt, hay "tình điên". Dục tình, như có người đã nói trên mặt báo này, là động lực độc nhất của thế giới. Đọc .. phần lớn những tác phẩm của D.H. Lawrence, ai mà không cảm thấy vật dục mình xao xuyến, một thứ xao xuyến rất nghệ thuật, rất siêu thực, rất trắng, rất tinh khôi...". Lý do ông đưa ra vì sống trong một thời đại "sống trong cái thế trên đe dưới búa, một bên là tự do tuyệt đối cá nhân, một bên là áp bức chính đáng..." (3).
Trong truyện Thằng Khởi, Duy Thanh để cho nhân vật xưng Tôi, một cô gái 16 tuổi, muốn ngủ và rồi ra tay "hiếp dâm" một thằng gánh nước người Chàm: "Tôi đã để ý đến nó năm tôi 16 tuổi. Cái vẻ đẹp man rợ ngu xuẩn ấy mang cho tôi nhiều ý nghĩ dâm dục. Tôi chắc rằng thằng Khởi chưa hề ngủ với ai bao giờ (...) Thằng Khởi vẫn ngủ trong lều. Đôi môi dầy của thằng Khởi mấp máy và vị nước bọt của nó sền sệt nhạt nhẽo. Tôi lay nó dậy. Thằng Khởi chồm lên chắc định la làng nhưng tôi bít miệng nó lại. Mắt nó mở to có vẻ ngạc nhiên lắm, nhưng cũng ngồi im. Rồi đưa tay quờ vào người tôi. Hơi thở của nó và của tôi hừng hực trong đêm tối..." (Sáng Tạo, 21). Cũng Duy Thanh trong truyện Chiếc Lá để nhân vật là cô gái 18 tuổi "thích thay đổi, từ vấn đề ái tình, sinh lý, không khí, đồ ăn,..." và không thích cái gì quen hoặc vô nếp cả. Khi còn là cô bé 15 tuổi, cô ta đã ngủ với anh rể vừa để trả thù chị mình vừa tìm cảm giác: "Tôi muốn đo cái độ dục của hắn khi hắn ngủ với chị ấy thế nào. Cũng lạ, cái cảm xúc ấy lúc đề phòng trước thì thấy tầm thường hết sức. Tôi thấy cái hình thù sát cạnh mình đến vô nghĩa..." (4).
Nhưng người tả cảnh thật sự dục tính đầu tiên có thể là Lê Hoằng Mưu, chủ bút Lục Tỉnh Tân-văn, tác giả Hà Hương Phong Nguyệt (1915), Oán Hồng Quần (tức Phùng Kim Huê Ngoại Sử, 1920), nhất là với Người Bán Ngọc (1930-31), dù văn còn ảnh hưởng biền ngẫu và câu chuyện xảy ra ở Trung Hoa nhưng nhân vật và khung cảnh rất Việt Nam. Một câu chuyện tình cổ điển gần 400 trang, nhưng suy nghĩ, ngôn ngữ và hành cử của nhân vật cũng như cách diễn tả tiểu thuyết có tính thật của đời sống lúc bấy giờ. Người bán ngọc đây là Tô Thương Hậu giả phụ nữ bán ngọc để gần gũi và trờ thành tình nhân của Hồ phu nhân"trững mỡ" trong hai năm chồng đi buôn xa, trước là đồng tình luyến ái, sau trai gái thật khi Thương Hậu không cầm lòng được đã để lộ cái "oan gia".
"Vén mùng rồi vừa gạt chưn để lên giường, xẩy thấy một tòa thiên nhiên, lịch sự như tiên giáng thế, làm cho người bán ngọc mảng mê nhan sắc trố mắt đứng nhìn, quên bổn phận mình, mưu sự tệ tình, bất cẩn, ... Thấy Hồ phu nhân mê mẩn giấc nồng sổ đầu, nằm bỏ tóc, xấp xả khó gìn cho đặng. Bèn sẽ lén lấy mền đắp bụng cho Hồ phu nhân; rồi lại muốn đưa tay rờ rẫm vuốt ve cho thỏa. Không dè, mới thò tay vừa tới bụng sợ phập phồng nó làm cho tấc dạ bồi hồi, tay rung lập cập. Người bán ngọc không dám rờ! Lật đật thục tay vào rồi xây mặt ngó quanh quẩn bên mình, ... Vuốt qua vuốt lại, rờ xuống rờ lên đôi ba phen mà Hồ phu nhân mê mẩn không hay, người bán ngọc thấy vậy mới dễ ngươi, ái tình lại dồi long tà dục... muốn kề má hôn cho phỉ dạ. Có một điều là rờ rẫm vuốt ve thì không sao, chớ hễ muốn kề má xuống hun, thì lại hườn cựu lệ, trống ngực đánh rầm rầm, chân tay run lẩy bẩy... đổ mồ hôi ướt đẫm như người bị cảm mạo phong sương... dục thúc quá dằn long không tiện, ngườI bán ngọc bèn gượng đưa tay ra rờ cái ngọc cốt phi phàm ... Rờ tới đâu chết điếng tới đó,..." (5).
*
Văn chương dục tính có khuynh hướng đi với nữ quyền. Hồ Xuân Hương - giả dụ có một Hồ Xuân Hương thật, tác giả những bài thơ Nôm tục lưỡng nghĩa, bà đã phải gò bó trong lối thơ hai nghĩa thời bấy giờ, đê nói lên những dồn nén và những đòi hỏi nữ quyền, "chém cha cái kiếp lấy chồng chung". Ở Việt Nam, cho đến giữa thập niên 1960, tác phẩm của các nhà văn nữ đã là những đóng góp làm đẹp cho đời, cho thế giới văn chương dù với tính cách bên lề, ngoại lệ. Thật vậy, đối với văn học chữ quốc ngữ thì năm 1927, bà Tương Phố với Giọt Lệ Thu đã thật sự khởi đánh dấu sự có mặt của nữ giới trên văn đàn chữ nghĩa. Thụy An với Một Linh Hồn (1942), Bốn Mớ Tóc (1950, ký Lưu Thị Yến) nhìn ra cuộc đời, Anh Thơ với Răng Đen (1943) rồi Nguyễn Thị Vinh với Thương Yêu (1953) đã bắt đầu nói đến thân phận người đàn bà trong đời sống đại gia đình, trong khuôn khổ phong hóa - họ không sống cho cá nhân mình. Thụy An, Nguyễn Thị Vinh nói đến số phận những thế hệ phụ nữ đã phải sống trong đứt đoạn, nghịch lý khó khăn giữa giáo dục thời thiếu nữ và thực tế ở đời khi trở thành phụ nữ ! Linh Bảo với Những Đêm Mưa, Tàu Ngựa Cũ xuất bản cùng năm 1961, đã nhẹ nhàng khởi nêu vai trò người phụ nữ. Đến Nhã Ca, người nữ tình yêu đã lãng mạn và mạnh mẽ nhưng chiến tranh và trách nhiệm đã khiến đôi lứa và gia đình quan trọng hơn cá nhân. Nói như Virginia Woolf, họ vẫn quanh quẩn trong "những hành lang tối ám của lịch sử".  Người đàn bà sinh ra sống cho gia đình, lo cho cha mẹ, cho em, rồi khi rời gia đình thì rơi vào gia đình khác, lo cho chồng, cho con rồi cho cháu, ăn ở có đức, rồi chết ... theo đúng lễ nghi, phong tục! Người phụ nữ cho đến giai đoạn này chỉ đi tìm hạnh phúc!
Phải đến Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy-Vũ và Trùng Dương, văn chương mới trở thành phương tiện cho nữ quyền và quyền sống. Thật vậy, từ cuối thập niên 1960, người viết nữ đã mạnh bạo đi xa hơn, tự tin hơn và những vấn đề phụ nữ được chính thức trương lên chữ nghĩa. Cái Tôi, nhân vật chính, nội dung, tình cảm, tình yêu, tình dục, ... không còn là của riêng những nhà văn thơ phái nam. Hơn là những "hình ảnh người nữ" trong tác phẩm viết bởi nhà văn nữ hay nam, từ Khái Hưng, Nhất Linh,.. đến Hồ Trường An, Nguyễn Thị Phong-Dinh,v.v.
Lê Thị Thấm Vân, một nhà văn hải ngoại đã phát biểu rằng:"Trong quá khứ, văn chương tình dục đa phần viết bởi ngòi bút đàn ông. Văn thơ kể, nói, chỉ, "dạy", diễn tả, ... những cảm xúc, "cách thức" rung động, thèm muốn, bày tỏ (thay cho) người đàn bà" (6). Văn chương dục tính hay có dâm tính lại do người nữ viết hình như hấp dẫn hơn vì cũng hình như có tính tự thuật nhiều hơn. Vì từ nay, người nữ làm chủ con người, tư duy, tình cảm và cuộc đời của họ trong văn chương. Làm người nữ, với văn chương! Simone de Beauvoir trong Le Deuxième Sexe (1949) đã phát động cái ý thức nữ quyền đó khi hô hào "On ne nait pas femme, on le devient". Trong văn chương, trong ngôn ngữ vì là cái có thực, có sự sống. Như vậy, viết trở thành hành động tự xác định của người phụ nữ, trở thành phát ngôn viên chính thức của con người phụ nữ, tiếng nói chính thức và từ tình dục.
Từ thuở tạo thiên lập địa, nếu theo truyền thuyết sáng thế từ Adam Eva thì Eva đã phạm tội ở vườn địa đàng, Adam dại gái nên bị cám dỗ; thân phận phụ nữ gãy đổ ở gốc cây táo từ đó. Đến lúc xảy ra phong trào đòi nữ quyền, người ta bắt đầu thấy phụ nữ lộ diện trên mọi sân khấu và đến cuối thế kỷ XX thì sân khấu gần như nhường hết cho các bà. Từ thập niên 1960, họ "lấn" thêm chuyện cái giường và thân xác. Họ gạt bỏ vòng cương tỏa tình dục nam quyền để làm lại thế giới với hình ảnh và dục vọng phái tính của họ. Marguerite Duras đã cho nhân vật nữ chủ động trong tình yêu: "Il a arraché la robe, il la jette, il a arraché le petit slip de coton blanc et il la porte ainsi nue jusqu’au lit. Et alors il se tourne de l’autre côté du lit et il pleure. Et elle, lente, patiente, elle le ramène vers elle et elle commence à le déshabiller" (7). Không xa nơi cô đầm Sadec, thập niên 1960 đã có một thế hệ nhà văn nữ như Trùng Dương đã tỏ tinh thần độc lập, dứt khoát tự giải thoát khỏi những ràng buộc của chế độ phụ hệ, cả trong động tác làm tình: "Một lúc nàng nới lỏng tay ra , thôi hôn tôi, mắt say đắm. Tôi nghe tiếng nàng nói qua hơi thở : Em lên anh nhé? Tôi khẽ gật đầu. Diệu xô tôi nằm xuống giường và lên người tôi. Diệu thường mở màn bằng cách đó. Hình như nàng tìm thấy cái thú nằm trên người tôi, một cái thú khá man dại và cũng chóng tàn"(8). Thử so với Loan của Đoạn Tuyệt chỉ muốn được đọc sách tiếp rồi ngủ sau đã phải đưa đến án mạng!
Hoặc các nhà văn nữ lên tiếng chống lại những thân phận tùng thuộc, nhận chịu, chờ đợi. Họ vạch mặt những qưyền lực đàn áp của định chế chính trị, của xã hội, của đồng lõa phái nam. Cái Tôi trước cái "anh, mày" tức người đối diện, trước cái Ta, cái chúng ta! Cái Moi của Simone de Beauvoir là cái Tôi xồ xề, sung túc ! Từ đó tình yêu có thêm nhiều hình dung từ, ngoài những tình yêu lý tưởng, cao thượng, đau khổ, ... lỗi thời, nay thêm tình yêu bản năng, tình dục, tự do, đổi chác, khoái lạc, cả tình yêu phút chốc, bồng bột, hiểm nghèo, ...  Về điểm này, người viết nữ thời nay như muốn trở lại thời bán khai, tự nhiên, giải phóng tình dục khỏi những quy ước của hôn nhân, phong hóa. Đi xa hơn, không chỉ đòi bình quyền, còn tự chứng minh tự xác tín cái cá biệt "nữ", khác biệt về tình dục, về xúc cảm thân xác, về kinh nghiệm và cả ngôn ngữ. Họ làm chủ cơ thể, cảm xúc và tư duy. Trùng Dương trong Mưa Không Ướt Đất chẳng hạn cho nhân vật lý luận triết lý, truyện có tính cách lý luận hơn là sống nếu muốn gọi đó là hiện sinh. Xưa kia nhà văn nam viết, phân tích tâm lý mọi người thì nay các nhà văn nữ muốn phân tâm đàn ông và tự phân tâm! Một loại "văn hóa" mới, năng động và cách tân phái tính. Họ không ngừng ở thể loại nhật ký, thi ca, tiểu thuyết , mà đi xa hơn, làm chủ cơ quan văn nghệ, lên tiếng phỏng vấn, thuyết trình, ... Nhưng chính với văn chương, với tiểu thuyết và thi ca như phương tiện, mà người nữ lên tiếng, phát biểu, làm chứng.
Lệ Hằng thời trẻ xảnh xoẹ đi tìm hạnh phúc, hạnh phúc là ái ân, da chạm da, nói như Phượng Uyên trong Thung Lũng Tình Yêu chỉ muốn "thiên đường chính là vòng tay, là mùi hương đàn ông, là hơi thở của chàng. Tôi không tìm nữa một cảnh bồng lai, vì đôi môi người yêu, giọng nói người yêu, và đôi mắt chàng, là giòng sông tình ái, là rừng say sưa là suối bất tử đời đời tắm mát tình yêu " (9). Sẽ đòi hỏi hơn với Sóc Nâu là chuyện tình yêu khả thể với một người bạn nam Dũng, kiểu " Em thèm được làm một người đàn bà. Dưới tay anh, dưới thân thể anh, và dưới tình yêu của anh nữa...  Dũng ơi ... Hãy trở thành một người đàn ông với em đi" (10).
Với Túy Hồng trước 1975, nhân vật nữ luôn đầy sức sống vùng vẫy trong một xã hội tù túng, ngộp thở. Họ luôn muốn phá đổ những lễ nghi, cung cách, những nếp sống phụ hệ, gia phong theo họ đã lỗi thời. Dục tính, mà một số nhà văn nam phê bình bà trước 1975, đã bị gán ghép, đồng hóa với thái độ và lối sống tự do, theo bản năng giấu dưới những mỹ từ tình yêu, tình bạn. Hãy còn bóng bẩy, rụt rè hiện thực, cùng lắm qua lời nói, ý nghĩ như nhân vật nữ trong Vết Thương Dậy Thì (1967): "Hãy ngậm em giữa hai môi dầy trác táng, uống em đi, nuốt em đi ừng ực. Chỉ vẽ cho em cách chế cà phê và cách chui vào lòng anh để thao thức cồn cào tỉnh người bỏ ngủ vì đã liếm em trên đầu môi chót lưỡi, đã ngậm, đã nuốt ực em vào anh rồi"(11). Người nữ đi thẳng, nói trắng : "nếu yêu em thì đừng đi quanh nữa (...). Anh hãy cho em đi con đường ngắn nhất, con đường độc đạo của tình yêu" nói như bạn cô giáo Cam Thảo, nhân vật Thở Dài, trong khi cô thì viết thư thúc người yêu cưới mình!
Trần Thị Ng.H. qua Lạc Đạn - viết năm 1973, và một số truyện ngắn đăng báo trước 1975 cũng đã, qua văn chương, tự xác nhận, ra tay để phá đổ huyền thoại phụ nữ như là đối tượng, xây dựng lại tương quan với người khác giống, đảm nhận tự do, một cách lạnh lùng, dứt khoát, dù vẫn cho thấy một loại bất mãn, dồn nén! Nơi thái độ, như hối hận sau liên hệ đồng tính với Thắm, sau khi đã "ôm nhau như đôi tình thân. Thắm rà đôi môi nhỏ trong cổ tôi, đôi vú non căng nở phập phồng, hốt hoảng. Tôi kinh hãi xúc động dầm dề. Tôi muốn la lớn trong cơn khoái cảm mộng mị và kì cục...". Như sau khi chấp nhận trò chơi "đau xé nổ tung đầm đìa. .. đỏ lòm oan uổng" với "người đàn ông lạ mặt", rồi phải "dỗ dành chỗ mềm yếu nhất, dỗ ngọt, săn sóc" đã xác tín - trong ý tưởng, với người mẹ âu lo rằng "con trinh bạch không tội lỗi, con nguyên vẹn của má" (12). Tình yêu, tình người ở đây, không là những bất ngờ! Trong các truyện ngắn khác ở tập này và tập Tập Truyện Ngắn Trần Thi Ng.H. (1999), bà còn nói đến những mặt trái, tội ác, cái chết tự xử, cái chết người khác, những cái chết dàn cảnh!
Cách mạng tình dục tiếp tục với văn học hải ngoại : Đỗ Kh., Khánh Trường, Trần Vũ, Trân Sa, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Thị Hoàng Bắc,... Bài này chúng tôi nhìn qua phía các nhà văn nữ, họ lên tiếng về những âu lo, tâm tình mà lâu nay nhất là ở Việt Nam ít thấy. Những âu lo của Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan thanh cao quá, trừu tượng quá, Hồ Xuân Hương nếu là tác giả thật những bài thơ về tính giống và tác động phòng the, cũng vẫn ở ẩn dụ, bóng gió, không trực tiếp, trốn trong cách thế nho nhã! Nhà văn nữ Việt Nam ở hải ngoại nói thẳng những lo âu thực tế, sờ được, cảm  được, không cần nhiều ngõ quanh, đi vòng. Sinh lý hết được xem như cấm đoán, lại được xem như đòi hỏi chính đáng, tình dục trở thành nhu cầu tự nhiên, phải có, không thiên kiến và mặc cảm phạm tội, cả có khi ngây thơ trong tìm kiếm. Tự nhiên và chấp nhận trò chơi trăm phần trăm, với tấm thân sẵn đó, như đó!
Nói chung, phụ nữ chống văn minh, văn hóa dựa trên quyền hành đàn ông, phụ quyền, chống Tây phương kỹ nghệ định nghĩa đàn ông ở khả năng sáng tạo và chế biến sự vật. Phụ nữ  chống văn chương như một nền chế, họ thích mặt trận "ngôn ngữ" hơn, thích phổ dương liên hệ trực tiếp với chữ viết cũng như với thân xác. Phụ nữ  Mỹ châu đòi quyền lợi, họ dấn thân, xuống đường, lập nghiệp đoàn,... ít cho người đọc thấy dây dưa tình cảm. Ngôn ngữ không quan trọng, cái quan trọng là chống đàn áp, đô hộ của đàn ông . Trong khi đó ở Pháp và Âu châu, ngôn ngữ được đặt lại vị trí, thẩm mỹ học, một loại phản văn hóa đặt nền trên sự đè nén. Người viết nữ xây lại nội dung, cấu trúc lại những ngõ thoát, lối ra của ngôn ngữ. Sướng khoái thể chất đi với sướng khoái lời nói, chữ dùng. Thêm vào, những khuynh hướng mới về tiểu thuyết như hậu thuộc địa (postcolonial) là một loại diễn văn muốn thay thế những quan điểm đã được thiết lập trước về lệ thuộc và vâng lời bằng quan điểm hoàn toàn ngược lại, đề cao tự lập cá nhân và tự chủ. Xây dựng lại nội dung bằng đường thoát ngôn ngữ. Lạc thú thân xác đi liền với lạc thú ngôn ngữ, đến sau lạc thú ngôn ngữ. Người nam đi vào văn để tìm hoặc nếu đã thấy, trình bày lý thuyết, triết lý hay một "nghiệp", người nữ thì đến để thực hiện cái tôi, xác định cái tôi, cá nhân. Và họ đi vào tình dục. Sex được dịch là hữu-tính (tự điển Thanh Nghị), làm như không sex là số không to tướng! Đưa đến những cuộc sống ...ngoại lệ: đàn bà không sanh con, đồng tính luyến ái, lãnh cảm (Jane Austen, chị em Emily và Charlotte Bronte, Simone de Beauvoir, George Eliot, ...). Sống đời thế tục, tận hưởng phút giây, lãng mạn tình yêu đến tự do tình dục!
Người nữ sống đời hải ngoại hội nhập, choáng ngợp giữa những lạ-lẫm (exotic), đầy ắp và choáng ngợp trước tự do ở xứ người, tự do tuyệt đối và cá nhân chủ nghĩa, từ vật chất, thân xác, tình cảm,.. Có thể họ muốn giả vờ, trưởng giả , nhưng lại không giữ lề, thích tự do ngoại tình,.. Có người đi đến thái độ hài hước đen, ngầm nữ quyền. Người nữ những thập niên cuối thế kỷ XX choáng ngợp tự do, tình dục, đi xa hơn cô giáo Hoàng. Cái giường hết còn là ám ảnh chính như với Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Túy Hồng (từng viết "cái giường là đồ vật tội lỗi nhất trong những đồ vật" trong Vết Thương Dậy Thì),... Sau chiến tranh, nhân vật Túy Hòng sống trong chia cách và đời sống mới, trở nên yếu ớt, căng thẳng, vô định trước tương lai, lại tăng dâm tính, tình dục trở nên cách hành xử hoặc tác động xác thân lên trên tình cảm. Đây là một hiện tượng từng chứng minh với những biến động lớn như vụ không tặc Tháp Đôi ở New York ngày 11-9-01. Để xóa căng thẳng và tái xác nhận đời đáng sống, cái sống đáng trân trọng, một tâm trạng sống sót, cho nên buông thả tình dục, với cả người mới quen. Cứ Tay Che Thời Tiết  "có thể chờ chồng nhưng tôi không thể thủ tiết được" cho nên cứ "xoạc mông xoãi đùi đu bay lẫn lộn trong bát ngát tự do rì chặt chữ tình làm cứu cánh" (tr. 73), cuối cùng mới thấy chỉ là ảo tưởng, lãng mạn. Ảo mộng vun trồng vẫn hóa ra mộng ảo, con người không dễ thay đổi lớn !
Nhân vật Mưa của Lệ Hằng trong Bên Kia Là Núi (1998) một khi ra được ốc vỏ văn hóa cũ (cô giáo, vai chị), đã lồng lộn thụ hưởng đời sống tình dục hơn cả người tình Phi châu Saba của Hãn. "... Cô bỗng khùng lên, cánh đồng khô khát của cô ghì lấy Hãn. Chưa một lần nào, Hãn thấy cô tả xông hữu đột truy bức thân thể Hãn dữ dằn hơn. Gầm gừ mê mỏi, hào hển đứt hơi. Cuồng lên vì lạc thú, cô làm Hãn kích ngất vì những rung cảm khốc liệt của cô... "(13).
Như vậy, nay chính thân xác là đối tượng, là đề tài chính! Với Trân Sa và một vài nhà văn nữ, tôn giáo ngưng lại ở chỗ tình dục; tình dục không những tháo gỡ cấm đoán mà còn vô hiệu hóa cấm đoán. Tình yêu khác tình dục, cái sau cũng làm ... tình nhưng hết mình, chính xác, một chuyện. Làm tình phức tạp hơn, đòi hỏi con tim, lời nói, cử chỉ, cả văn hóa. Làm tình, trò chơi thân xác, tựu trung là một khoảng trống cần thiết, một chiến thuật đầy đủ, cũng là cách thức sống, một cách biểu tỏ, một phương tiện hiện hữu thể chất, máy móc - là những thứ nếu thiếu, thì cái còn lại chỉ là phó sản, hiện tượng phụ. Làm tình cũng là một cách học hỏi bằng tự xóa. Tình dục trước khi là hiện tượng xã hội, văn hóa, đã là thân xác.
Khi tay anh xoa xoa  xà phòng vào “nơi ấy”,
nắng bên ngoài rực sáng thêm một chút nữa.
“Nơi ấy” giờ thì mềm xìu, bé tí, bình thường như vành tai, chóp mũi, khuỷu tay, đầu gối, gót chân… như bất cứ phần nào trên thân thể anh.
Trước đấy một giờ. Nó cương cứng, nóng hổi, hùng hổ
trong miệng em, giữa rãnh ngực em, trên mông em. Nó cố đâm thấu-xuyên-sâu-qua bao lớp da thịt để vào trong em. (Là nó, chẳng thuộc về ai).
(Lê Thị Thấm Vân,  Căn Phòng 2.2  Âm Thanh Sóng) (14).
"... Suốt một buổi chiều /  Yêu dọc từ dưới lên - và xuống / Từng lằn chỉ - khớp - từng phân li thịt da / Nhập một / ấm áp - rịn - ướt / Suốt một buổi chiều / Không ngớt / Nghiêng - xoay - cong - mềm mại / Cọ - trườn - lướt / Sau - trước / Những điệu thuần nữ / Có khi là một / Hai - ba - hoặc cả năm / Yêu khắp cùng lòng kia ưỡn ngã xuống như sóng / Và lượn úp lên - uốn chụp xuống / Đan khít mười / Không rời / Không một kẻ hở / Tuần tự - tất cả / Ngoài và trong - không một bỏ trống / Gò và trũng / Suốt một buổi chiều / Hai bàn tay lần đầu yêu nhau / Suốt buổi chiều / Trong căn phòng..." (Trân Sa, Động Tác Yêu) (15).
Thế giới ẩm ướt, trò tình dục không được một số nhà văn nữ Lệ Hằng, Trần Thị NgH, Trân Sa, ... coi là cấm đoán hay lớp áo mỏng che. Broadway ở New York còn đưa lên sân khấu vở Độc thoại của cái l. (Vagina Monologues) của Eve Ensler trong ngày được gọi là V-day, địa đàng trở nên ẩm ướt mà đối với một số nhà văn nữ, cái ẩm ướt cũng là căn cước của họ. Với họ, tình dục là tự nhiên và những hành cử tình dục cũng như bộ phận sinh dục bị bêu xấu hay không nói đến chắc là để làm dơ, làm xấu, làm mờ phai chính hành cử đó, đối tượng đó. Nên họ làm ngược lại!
Dương Như Nguyện đưa vào đời sống hội nhập Mùi Hương Quế (2000), một mùi thơm của tiềm thức và một thân xác của-lạ để đối phó với thực tại vật chất của xứ người. Một cái nhìn xuyên suốt tâm thức văn hóa gốc khi sống đời hội nhập và thành công ở xứ người. Nhân vật Trâm Kha chẳng hạn hội nhập nhanh: "Trong giai đoạn đầu, tôi tình nguyện ngủ với hắn" (tr. 138), chạy theo tình dục như lâm trận tranh đấu cho nữ quyền, và trên ngay phần đất cơ thể chính mình.  Tâm thức về cái thân phận nữ phái, qua những nhân vật thân thích gia đình của bà. Qua nhiều thế hệ: bà ngoại, Tĩnh Tâm, ... Cũng là mùi thơm của oan khiên, tiếc nuối. Trong một truyện ngắn, Như Mưa, Nắng...?, Nguyễn Thị Hoàng Bắc kể một chuyện tình đồng tính giữa hai người phụ nữ như một chớm nở pha lẫn nghi ngờ:
"Tôi không lesbian, nhưng yêu (...)
Tôi run động ngẩn ngườị Ai là tôi, khi tôi/ai thích chuyện này, khi tôi/ai mê cái khác? Tôi/ai biết quá đại khái về ai/tôỉ Như mưa nằng tầm phàỏ" (16).
Rồi những khám phá như S. Hite về điểm cực khoái của thân xác phụ nữ năm 1976, người nữ hết phải chờ, hết cần được cho; muốn là tìm cho được, hối thức, vồ vập... Người nữ vô tình đánh mất tình cảm đã đành mà mất luôn "ngây thơ tình dục", gia vị thiết yếu cho đam mê, tình yêu, gây quyến rủ. Người viết nữ giới từ ý muốn làm chủ văn chương về phái nữ, đã đi đến chổ làm chủ ảo mộng cho người nữ bởi người nữ. Naomi Worlf, một người tranh đấu nữ quyền Hoa Kỳ nổi tiếng, sau những đòi hỏi triệt để đã quay 180 độ, trở về tự nhiên, chủ trương "nữ quyền làm mẹ" (motherhood feminism) trong mấy cuốn như Fire with Fire, Misconceptions đòi hỏi quyền làm việc đồng thời làm mẹ. Vì hai hình ảnh chính của văn chương nữ phải là người mẹ và người nữ, nên thành đề tài, lý do và thể loại xử dụng và ngay cả việc tận dụng ngôn ngữ.
Trên đà đấu tranh bình quyền, thuốc ngừa thai, của thập niên 1960, người phụ nữ đã bớt hoặc không còn làm mẹ. Thuốc ngừa thai khiến người phụ nữ không phải mặc cảm tội lỗi ! Ngay có con đã có cách cấy giống khỏi cần yếu tố dương, nghĩa là xa hơn thái độ của nhân vật của Trần Thị Ng.H. trong truyện Sinh Nhật (17) định nghĩa một người mẹ/người nữ mới, một mình nuôi con, không cứ phải qua định chế hôn nhân. Và rồi bộ phận có tuyệt vời đến mấy cũng chỉ là một ... cơ quan, cái thiếu vẫn là liên hệ, luật âm dương kinh dịch từng nói đến! Cách mạng tình dục đã là hậu quả của cách mạng nữ quyền, nhưng đã đảo lộn mục đích-đối tượng. Thập niên 1960 họ đòi trả thân xác cho họ nhưng khi thân xác trở thành chính cái Tôi thì thân xác lại chiếm nhiều chỗ quá. Nhục dục từ chỗ bị dồn nén, trở thành khuôn mẫu, khoái lạc, là cấm kỵ trở thành totem (tổ vật), không sanh đẻ, trục trặc nhục dục (libido), cái giống trở nên buồn thiu sau khi tả tơi máy móc hóa, tầm thường hóa (chương trình truyền hình Sex and the City ở Mỹ). Thân xác không tình yêu, từ đối tượng trở nên chủ thể của nhục dục! 
Chống đề cao giống mạnh, nam quyền macho, phong trào nữ nêu khẩu hiệu "đàn bà là tương lai nhân loại, thế kỷ XXI là thế kỷ đàn bà". Mỗi giống tính không thể rút vào vỏ cô đơn tình dục, trí thức và luân lý, cuộc sống còn gì thú vị và tương lai! Nay có thể nói người nữ còn lại bốn ám ảnh chính: tình dục, sợ hãi, bạo lực và khinh rẽ. Nữ quyền đòi hỏi đến một lúc nào đó sẽ rơi vào chán nản, tình dục cũng thành buồn thiu. Saba, nhân vật trong Bên Kia Là Núi của Lệ Hằng, sống buông thả và bạo động tình dục như để chứng minh nữ quyền, cuối cùng đâm ra sợ cả tự do tình dục. Chưa kể đến hiện tượng tiểu thuyết dành cho độc giả phụ nữ, có khuynh hướng xem như những tranh đấu nữ quyền đã qua, nay đưa ra những hoàn cảnh nhân vật nữ bị tiếng sét ái tình hoặc tô điểm một hình ảnh "hoàng tử của lòng em", mà nếu gặp, người vai nữ dám bỏ hết tương lai sự nghiệp để đi theo - như trước kia, nhưng khác là nay do nhà văn nữ viết ra! Và cứ thế, những trào lưu tiếp nối, hết nữ-lưu luận sẽ thuyết lý gì khác?
Không đóng vai luân lý, đạo đức nhưng đối với văn chương dục tính, thiển nghĩ tính văn chương sẽ không ở lâu với những quẩn quanh tình dục không lối thoát. Không bắt buộc phải hướng thượng, nhưng nếu nhân vật, hành động và nội dung của văn chương cứ bị tình dục, thân xác giam hãm tù đày, định nghĩa về văn chương hình như đã bị hãm hiếp một cách tội nghiệp vậy! Đây là chỗ khép lại của nhiều thập niên thử nghiệm kể từ khi nhóm Sáng-Tạo đề nghị buông thả và khai phá tình dục trong văn chương. Cuối cùng, cũng cần nói thêm là dục tính trong văn chương phải chăng một phần do ở người đọc - một thứ "cây sậy biết suy nghĩ"; người đọc trở thành đồng lõa với loại văn chương dục tính ?./.

Chú-thích:
1.   Nhất Linh & Khái Hưng. Anh Phải Sống (Sài Gòn : Đời Nay, 1961?), tr. 19.
2.   Phùng Nguyễn. Tháp Ký Ức (Westminster CA: Văn, 1998), tr. 97.
3.   Sáng Tạo b.m., 5, 11-1960, tr. 97-102.
4.   Sáng-Tạo b.m., 1, 7-1960, tr. 26-32.
5.   Sài Gòn : Đức Lưu Phương, 1931. Trích theo bản chụp lại.
6.   Văn học CA, 124, 8-1996.
7.   L’Amant. Paris : Minuit, 1984.
8.   "Miền Chân Trời". Văn (SG), 31, 1965, tr. 76.
9.   Sài Gòn : Gió, 1973, tr. 276-277.
10. Lệ Hằng. Sóc Nâu, XT tb, tr. 242.
11. Sài Gòn : Kim Anh, 1967, tr. 87.
12. Trần Thị Ng.H. Lạc Đạn Và Mười Truyện Ngắn (Toronto: Thời Mới, 2000), Tr. 67, 43 và 47.
13. San Francisco CA: Mõ Làng, 1998, tr. 183.
14. Tạp chí Thơ CA, số mùa đông 1999.
15. Nhánh Nhỏ (www.nhanhnho.org), 27, 1-2001.
16. Nguyễn Thị Hoàng Bắc. "Như Mưa, Nắng...?". Việt, 6, 2000, tr. 181&182.
17. Một truyện Trần Thị Ng.H. khác, viết năm 1998, in trong Lạc Đạn... Sđd.
 NGUYỄN VY KHANH

CUỘC TRÒ CHUYỆN “CẢM THẤY CẤN CÁ KHI ĐỀ CẬP TỚI NHỮNG CHUYỆN TRONG LÀNG VĂN HÔM NAY” GIỮA NHÀ THƠ HỒNG THANH QUANG VÀ NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC NGUYỄN HÒA


Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa: Có lúc ân hận
Khi đọc khá nhiều bài viết của Nguyễn Hòa, tôi thường có những cảm giác trái ngược nhau. Một mặt, tôi rất phục thái độ dũng cảm, thẳng thắn cũng như lối tư biện sắc bén và không phải là không tinh tế của anh. Mặt khác, tôi cứ thấy “ghê ghê” thế nào khi anh buông những trạng từ rất nặng để đánh giá những sơ sẩy hay những việc làm chưa thấu đáo của những người mà tôi biết chắc rằng bản chất của họ không hẳn đã như anh định luận. Nhưng trong đời thường, Nguyễn Hòa luôn là người mà tôi quý và thích gặp, dù chúng tôi đều không có nhiều thời gian để tiếp xúc với nhau. 
Cảm tình của tôi có với anh nảy sinh từ nhiều năm trước, khi anh mới chuyển từ Học viện Chính trị - Quân sự về tạp chí Văn nghệ quân đội, còn tôi là một phóng viên của báo Quân đội nhân dân. Không nhiều nhưng hai chúng tôi khi đó cũng có những dịp làm việc gần với nhau. Và tôi đã nhận thấy ở đằng sau bề ngoài có vẻ khắc khổ và đôi khi như cũng “thành tinh” của Nguyễn Hòa một tâm hồn rất tử tế, đàng hoàng và thực ra là rất giàu tình cảm. Dù đã nhiều năm trôi qua nhưng tới giờ, tôi vẫn nhớ vẻ mặt của Nguyễn Hòa khi có lần anh tâm sự với tôi về những khúc mắc sự vụ mà anh đã vấp phải trong giai đoạn mới  chính thức về làm nhà phê bình văn học ở số 4 Lý Nam Đế. Tôi cũng nhớ những lời anh kể rất xúc động về tuổi thơ của anh khi có lần tôi và anh cùng đạp xe trên phố Lý Quốc Sư, đoạn đi qua Nhà thờ Lớn và phố Ấu Triệu, nơi gia đình anh từng sinh sống.
Và trong cuộc trò chuyện này, tôi đã chọn anh để cùng suy ngẫm về những điều mà tôi đang cảm thấy cấn cá khi đề cập tới những chuyện đang diễn ra trong làng văn hôm nay.
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa
- Hồng Thanh Quang: Gần đây, hôm tôi gặp nhà văn Chu Lai, một ông anh đã chơi với tôi từ lâu, “đồng hương đồng khói đồng chí đồng đội” với tôi, tôi đã buột miệng than thở: Đúng là khi mình mới vào làm văn nhìn ai trong nghề cũng đẹp, nhưng bây giờ mình lại nhìn ra quá nhiều điều không hẳn là thích. Theo bác thì đấy là do bây giờ xã hội nó bị làm sao, hay là do mình bị làm sao? Anh Chu Lai bảo, đấy là do ngày xưa mình mới vào nghề thì mình biết ít, còn bây giờ mình biết nhiều hơn, chứ còn thế hệ nào cũng có người hay, người dở, không khác nhau mấy. Vậy nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa nghĩ thế nào về cách lý giải này?
- Nguyễn Hòa: Thật ra biết nhau nhiều cũng là điều hay. Nhưng với những người mà trước đó mình chỉ biết học qua các tác phẩm mà họ viết thì phải tính tới một yếu tố tâm lý như thế này. Thông thường, khi mình đọc tác phẩm của ai đó, nếu mình thích tác phẩm ấy thì mình hay liên tưởng đến một cái gì đó tròn trịa, thậm chí hình dung ra cả diện mạo của tác giả dù chưa được gặp bao giờ, chưa được xem ảnh. Tôi nghĩ đấy là một thói quen tâm lý đáng yêu, từ mối liên hệ với tác phẩm như là một sự hấp dẫn đối với mình thì tự xây dựng cho mình một hình ảnh hấp dẫn của tác giả. Lúc đấy mình đến với tư cách người đọc nhiều hơn là…

- Người làm nghề.
- Đúng thế. Khi bắt đầu chập chững vào nghề, bản thân tôi cũng có lúc trải qua tâm lý như thế. Nhưng rồi dần dần khoảng cách nó thu hẹp lại, mình không chỉ tiếp xúc với tác phẩm, mà mình còn tiếp xúc với cả con người đời thường của tác giả nữa, mà con người đời thường ấy thì cả cái hay lẫn cái dở đều lộ hết, nhất là những người nào thật gần gũi, lại có vài ba cuộc đánh chén với nhau, nhậu nhẹt với nhau, hoặc một vài chuyến ngao du rủ nhau đi đâu đấy, thì thường có sự tiếp xúc rộng hơn, tiếp xúc chi tiết hơn, cụ thể hơn… Tiếp xúc đó có thể có hai cái trái ngược, vì con người đều nhân vô thập toàn, có cái hay, cái dở… Trường hợp gặp được một đối tượng hay, đối tượng đó phù hợp với ấn tượng mà mình vốn xây dựng trong đầu, hoặc cái sự sai chênh nó không lớn thì mình sẽ cảm thấy đánh giá của mình cũng khá sát hợp và nhìn ở tác giả tác phẩm trong sự thống nhất nào đó nhất định. Nhưng khi con người tác giả đó lúc ở quá gần rồi, quá hiểu nhau, biết nhau quá rõ rồi, thậm chí ông ấy nhếch mép cười thế nào, ông ấy ăn ra sao, uống ra sao, thậm chí các quan hệ xã hội khác của ông ấy như thế nào, ông ấy có phải người rộng rãi hay không rộng rãi, thoáng đạt, hay không thoáng đạt, ông ấy là một người rất có trí tuệ hay ông ấy là một người hóa ra cũng bình thường, trong tiếp xúc hằng ngày cũng bình thường, thì mọi chuyện sẽ khác. Thậm chí, tôi biết có những người mà tôi đã đọc tác phẩm thì giữa bản thảo của họ với họ là một khoảng cách...

- Thậm chí khoảng cách không nhỏ, mà là khoảng cách lớn.
- Có lần tôi nói đùa, có khối nhà văn mang nguyên bản thảo mà họ đã viết bằng tay ra in thì đôi khi, sau khi sách phát hành rồi, đọc lại thì họ sẽ không dám viết văn nữa, bởi vì rất sai chính tả, sai ngữ pháp. Bản thảo so với tác phẩm đã được biên tập để xuất bản khác nhau một trời một vực. Đó là một sự thực. Ngay cả một số tác phẩm mà mình thích thì bản thảo gốc cũng ở trong tình trạng như thế, phải qua bàn tay biên tập, phải được chỉnh sửa thì mới trở thành cái mình đã đọc. Đấy là những hệ lụy khi khoảng cách nó cứ thu hẹp lại giữa chúng ta với những tác giả mà chúng ta yêu thích.

- Tâm lý người Việt luôn muốn “gần chùa” dù không hẳn để gọi Bụt làm anh…
- Tôi nghĩ thói quen này cũng tốt, nó làm cho khoảng cách giữa tác giả và người đọc gần lại, nhưng đồng thời nó cũng rất nguy hiểm, khi chúng ta cứ tiếp tục duy trì thói quen đồng nhất tác giả với tác phẩm.

- Tóm lại là từ những điều anh nói, có thể rút ra như thế này. Thứ nhất, không nên đánh đồng tác giả, tác phẩm; thứ hai, thực ra chúng ta hay hay dở, nó không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào chính chúng ta mà phụ thuộc vào cả môi trường chúng ta đang ở nữa. Một tác phẩm xuất hiện như vậy được tốt thì trong đó có bàn tay biên tập góp phần không nhỏ, một con người bộc lộ những cái tốt của mình cũng là do môi trường có điều kiện giúp bộc lộ cái tốt, giúp chúng ta xứng danh con người. Và điều đó buộc những người làm nghề một cách đích thực khi đánh giá tác phẩm văn học thì cần có một sự tỉnh táo nhất định để không vì ấn tượng cá nhân với tác giả mà đánh giá tác phẩm không đúng. Và cũng không vì tác phẩm như vậy mà đánh giá tác giả thế này thế kia. Có đúng không ạ?
- Hình như là Bertolt Brecht đã nghĩ đến chuyện đó, cho nên khi ông ấy đi từ sân khấu nghệ thuật biểu hiện tâm lý, tức là diễn viên phải hóa thân thành nhân vật, đến một giai đoạn khác là diễn viên phải giãn cách nhân vật.

- Cần cả sự giãn cách giữa con người với môi trường mà chúng ta đang sống?
- Đúng thế.

- Vậy cho nên, nếu trong tình hình làm văn học, thậm chí cả nghệ thuật nữa, hiện nay có quá nhiều điều khiếm nhã xuất hiện trong các sự đánh giá về nhau giữa các chủ thể thì điều đó nó không hẳn là vì những người làm văn, làm thơ, làm nghệ thuật hiện nay có nhiều đặc tính, nhiều yếu tố tồi hơn các thế hệ đi trước, mà do môi trường xã hội khiến người ta bắt buộc phải bộc lộ những cảm xúc tiêu cực nhiều hơn tích cực về nhau. Anh nghĩ thế nào về nhận xét này?
- Tôi thấy là, để có đủ thông số cần thiết đưa đến kết luận kiểu như thế, thì ta phải nghĩ xa hơn về lịch sử. Thật ra, trong các thế hệ cha anh đi trước, ít nhất ta lấy giai đoạn trước năm 1945, như nói theo PGS Đặng Thị Hạnh thì khoảng những năm từ 1928, 1930 gì đấy, văn học hiện đại Việt Nam mới ra đời, chúng ta tạm thời lấy mốc đó để so sánh, để đánh giá đấy là giai đoạn các nhà văn hiện đại Việt Nam ra đời, thì ta thấy rằng các cụ cũng có va chạm.

- Nhưng những sự va chạm ấy không được bộc lộ bằng chữ, không lưu lại đến bây giờ?
- Không lưu lại cho hậu thế. Hậu thế không bao giờ được mục sở thị cả, chỉ có những người cùng thời với họ kể lại.

- Không được lưu truyền một cách chính thức bằng văn bản?
- Đúng rồi. Và ít nhất căn cứ vào những gì tôi biết thì tôi thấy, vẫn có một sự lịch lãm nhất định…

- Trong cách ứng xử với nhau của văn nghệ sĩ thời xưa…
- Trong ứng xử với nhau có một sự lịch lãm nhất định.

- Thực ra, tôi cũng không phải là người có quá nhiều định kiến, nhưng tôi cảm giác hiện nay, một số người cùng làm nghề văn, một số người đồng nghiệp cầm bút với nhau lại ứng xử với nhau một cách quá tệ, thậm chí đôi khi là du thủ du thực, Chí Phèo mà họ không cảm thấy xấu hổ. Theo anh, lý giải là vì sao? Vì bản chất chúng ta, những người làm văn học nghệ thuật hiện nay không tử tế bằng các cụ ngày xưa, hay là vì do môi trường xã hội có vấn đề gì mà chúng ta cần phải nhắc tới? Anh có thể lý giải được chuyện này?
- Tôi thì tôi nghĩ rằng do sự chuẩn bị về văn hóa. Gần đây tôi có viết trong một tham luận, tôi có đặt ra một câu hỏi là, dường như thời mà các văn nghệ sĩ, đồng thời là những nhà văn hóa đã qua rồi chăng? Chính là căn cứ vào hiện tượng mà Hồng Thanh Quang vừa nói. Tức là những ứng xử với nhau không chỉ ở trên văn bản, trên giấy bút, trên báo chí, mà thậm chí ở trong ứng xử đời thường nữa. Và với sự phát triển của báo chí như hôm nay, đặc biệt là sự phát triển của Internet, thì rất khó có một động thái nào của cá nhân mà không lọt qua mắt đồng nghiệp; và với hình thức này, hình thức khác, nó được xuất bản, được xuất hiện ở trên Internet, trên các diễn đàn, trên một số website…

- Và các comment nữa.
- Các comment nữa. Thì tất cả những cái đó nó cho phép ta nhận diện kỹ hơn. Tôi nghĩ, ngày xưa có lẽ do chưa có nhiều báo chí lắm, tất nhiên, cũng có những tạp chí, có cả những tờ báo lá cải họ cũng đề cập chuyện này, chuyện khác, nhưng có lẽ là điều kiện để công bố những chi tiết thế này thế kia không có và bản thân những người trong cuộc họ cũng không muốn công bố ra chăng. Và một điểm nữa, theo tôi nghĩ, cũng không kém phần quan trọng là, dường như mọi người khi nhắc đến những kỷ niệm không hay, thì mọi người nhìn nó, tôi đọc hồi ký thì thấy họ nhìn nó một cách rất là, như mình bây giờ vẫn gọi, là cầu thị.

- Người ta theo dòng thời gian đã thấy rõ được cái sai của mình trong quá khứ và cảm thấy ân hận, tiên trách kỷ, hậu trách nhân, chứ không phải cứ chăm chăm đổ lỗi cho người khác, còn công lao thì lại nhận hết về mình.
- Hình như thời gian làm người ta chín chắn lên, người ta biết nhìn về quá khứ theo kiểu đó. Nhưng dường như hôm nay thì lại không phải thế. Ít ra thì căn cứ vào một số chuyện mới xảy ra trước mắt chúng ta. Tôi nghĩ đấy là do sự chuẩn bị về văn hóa.

- Anh nghĩ, thế hệ văn nghệ sĩ hôm nay được chuẩn bị kém hơn các văn nghệ sĩ thời trước chăng? Tất nhiên không phải là tất cả…
- Tôi nghĩ là như thế.

- Tại sao lại thế, nếu mà theo logic bình thường thì hiện nay chúng ta có nhiều điều kiện hơn để trau dồi văn hóa hơn các cụ ngày xưa?
- Có thể trau dồi tri thức thì nhiều điều kiện hơn, nhưng trau dồi văn hóa lại là chuyện khác.

- Thế việc đó phụ thuộc vào những yếu tố gì, theo anh?
- Tôi nghĩ, thứ nhất là do cá nhân chủ thể đó, họ ý thức như thế nào về hành xử của họ với đồng nghiệp. Hành xử với đồng nghiệp thực ra nó nằm ở trong phạm trù gọi là đạo đức nghề nghiệp. Tôi chơi thân với Hồng Thanh Quang, trước hết bắt đầu từ nghề nghiệp, sau đó chúng ta mới trở thành bạn. Và khi chúng ta trở thành bạn rồi thì chúng ta ứng xử vừa là anh em nếu người hơn tuổi, người ít tuổi, hoặc người cùng lứa với nhau; có thể mày tao chi tớ, nhưng đồng thời trong đó có cả ứng xử nghề nghiệp. Mà ở một số người, nếu nói đến những gì nó liên quan đến đạo đức nghề nghiệp thì hầu như không được chuẩn bị.

- Một khi chúng ta coi Chí Phèo là hiện tượng bất bình thường thì xã hội sẽ có ứng xử khác. Nhưng nếu coi Chí Phèo là một tất yếu và không thể thiếu được của cuộc sống thì sẽ xuất hiện những cách ứng xử khác. Anh nghĩ thế này, hiện nay người ta có tâm lý coi Chí Phèo là bình thường, là chủ đạo hay ngược lại?
- Thật ra điều Hồng Thanh Quang nói về cái gọi là Chí Phèo thì nó xuất hiện chủ yếu trên bề nổi trong đời sống. Mà chúng ta cũng phải lưu ý những chuyện giật gân, nó kích thích sự hiếu kỳ của công chúng. Đấy là những chuyện mà báo chí hay khai thác, trong nhiều trường hợp nó như là con mồi nhử của báo chí. Báo chí khai thác chuyện đó một cách triệt để, tận ngóc ngách, thậm chí là ngay lập tức tìm được cái gì giật gân nhất của sự kiện này, hay sự kiện nọ để đưa nó ra, hấp dẫn độc giả. Thậm chí có trường hợp bé xé ra to, chuyện không có gì ghê gớm cả lại bị “đánh” để thành ra chuyện quan trọng. Đấy là cái thứ nhất. Cái thứ hai nữa là bản thân người gây ra sự kiện đó đôi khi họ cũng mượn nó đấy là một cách để họ nổi tiếng.

- Cố tình làm để nổi tiếng.
- Cố tình làm...

- Tôi nghĩ thiên chức của văn nghệ sĩ ở thời nào chủ yếu vẫn là hành thiện, phát hiện cái thiện, vun vén cái thiện. Hơn tất cả những ai khác, một dân tộc nào, xã hội nào cần đến văn nghệ sĩ là cần sự tinh tế, sự nhạy cảm, sự từ tâm, thậm chí cả sự mềm yếu. Và văn nghệ sĩ thông thường là phải lo lắng đến chuyện có thể làm đau người khác như Evtushenko đã viết, dù “chỉ bằng một cành hoa”. Và văn nghệ sĩ thì phải biết rằng, ngay cả sự tôn vinh không khéo, không đúng cũng là xúc phạm nhau, cũng là làm hại nhau. Yanis Ritsos chẳng từng viết: “Những tràng vỗ tay phải đâu cái tát, sao mặt bạn tím bầm?”… Thế nhưng, tại sao ngày nay hiện tượng đang trở nên phổ biến lại là chính một số văn nghệ sĩ cố tình làm đau đồng nghiệp, đau xã hội bằng những hành động tôi nghĩ rằng không xứng đáng với một người được coi là, tôi không nói chuyện theo kiểu giáo điều, là chiến sĩ mặt trận gì cả, những người có thiên chức phải gìn giữ tất cả những sự tinh tế, mềm dẻo và nhạy cảm của cộng đồng? Theo anh, hiện tượng này xuất phát từ đâu, nguyên nhân xã hội nào, hay đơn giản nó chỉ là do một số cá thể văn nghệ sĩ bản chất như vậy?
- Tôi xin trả lời tiếp câu lúc nãy đã. Gọi là tình trạng đang phổ biến “hiện tượng Chí Phèo” thì thường nó có một cái nói chung là, gặp anh Chí thì chả ai muốn dây. Thật ra, những anh Chí kiểu như thế thì họ có ý thức về việc làm, vì bản thân họ không phải là Chí Phèo nguyên bản.

- Không có “cốt cách Chí Phèo”, mà chỉ học kiểu làm như Chí Phèo…
- Chí Phèo chỉ có những khi uống rượu say mới thành anh Chí, còn những người kia thì họ có ý thức về chuyện đó.

- Nhưng tại sao họ lại có ý thức ấy?
- Để đi đến câu trả lời cho câu hỏi của Hồng Thanh Quang thì tôi nghĩ, đó là tập hợp các yếu tố chứ không phải chỉ một vài yếu tố, trong đó có môi trường xã hội. Có một thời gian dài hình như chúng ta để quên việc là, mỗi người hãy  tự trau dồi lòng tự trọng. Tôi vẫn nghĩ rằng, kể từ khi bà Eva ăn phải miếng táo và bà ấy nhận ra sự lõa lồ của mình thì dấu ấn đầu tiên của con người về văn hóa, đấy là sự xấu hổ.

- Vâng. Biết xấu hổ.
- Và chính sự xấu hổ đó nó giúp người ta biết đứng lại ở chỗ nào, biết dừng lại ở chỗ nào, biết điều chỉnh hành vi ở chỗ nào. Thế nhưng, dường như không ít người trong chúng ta không quen làm cái đó. Thơ của ông Tố Hữu đã nói đến con người xã hội, con người tập thể rồi, trong khi chúng ta chưa được chuẩn bị đủ một yếu tố rất quan trọng, đó là sự ra đời của các cá nhân, tức là tính chịu trách nhiệm của mình trước số đông.

- Tức là anh lại quy về yếu tố xã hội.
- Tôi nói tới tập hợp các yếu tố. Thứ nhất là về môi trường, thì chúng ta không có một thời gian nào đó để trau dồi cho mỗi cá thể xã hội nắm bắt một cách cơ bản nhất những yếu tố làm nên cái gọi là cá nhân như trong tư cách là thành viên của xã hội.  Tôi được biết, khi con người ý thức được vai trò của cá nhân thì họ sẽ lập tức ý thức được vai trò của mình trong xã hội. Xã hội chỉ là xã hội khi nó là tập hợp của các cá nhân trong mối liên kết nhất định; và các cá nhân cũng chỉ gọi là các cá nhân khi anh đặt trong mối liên hệ cộng sinh, liên hệ sống với cộng đồng. Tôi thấy có một thời gian dài chúng ta đi từ cá thể kiểu nông dân tư hữu đến con người xã hội hóa mà không được chuẩn bị một điều rất quan trọng là ý thức về cá nhân như là một yếu tố cấu thành của xã hội, cá nhân mà trong đó có điều rất quan trọng là lòng tự trọng và sự xấu hổ.

- Có ý kiến cho rằng, hiện nay, cái tâm lý mà tôi tạm gọi là “tâm lý paparazzi” đang ngày càng trở nên phổ cập. Tâm lý ấy là thế nào? Tức là trong các sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt xã hội, chúng ta không quan tâm đến sự tử tế của nhau, chúng ta chỉ muốn tò mò xem có ai vô tình hay cố ý để lộ những sự khiếm nhã, cả trong ứng xử lẫn trong ăn vận, đặc biệt là ăn vận ra để xúm lại nhòm ngó, bàn tán, bình phẩm, viết comment thả sức… Ví dụ, tôi có bộ complet rất đẹp, mặc quần áo rất đẹp nhưng không may tôi hở cái cúc quần áo nào đấy, hoặc thậm chí, tôi đi đôi tất có màu không “ăn” lắm với màu giày, thì họ sẽ xúm lại đánh giá nhân cách của tôi, đạo đức của tôi, tài năng của tôi qua những chi tiết đó, chứ họ không thèm quan tâm tới việc tôi làm báo như thế nào, tôi viết thơ như thế nào, thậm chí là tôi hát như thế nào… Dĩ nhiên, họ càng không quan tâm đến việc tôi có thể tử tế như thế nào, trong một số trường hợp nhất định (cười). Theo anh,  nguyên do xã hội nào, khách quan nào dẫn tới việc bộ phận không nhỏ hiện nay trong chúng chúng ta đang bị lệ thuộc vào tâm lý đấy?
- Tôi vẫn muốn trả lời nốt câu hỏi lúc nãy. Tôi mới nói đến yếu tố ngoại cảnh, tức là hoàn cảnh khách quan của nó. Cho tôi trả lời tiếp về một yếu tố của nó nữa, tức là sự chuẩn bị của các cá thể. Chúng ta nói đến văn hóa rất nhiều, văn hóa phải thế này, văn hóa phải thế kia, nhưng thật ra, Hồng Thanh Quang cứ để ý mà xem, trong thời gian rất dài, chúng ta chỉ nói đến văn hóa là học vấn, trình độ văn hóa khai lý lịch là học vấn chứ có phải là văn hóa đâu. Văn hóa là cái không bao giờ được coi là đủ, có lẽ trước khi nhắm mắt xuôi tay chúng ta vẫn phải nạp vào.

 - Học vấn chỉ là một yếu tố cấu thành thôi chứ không phải là toàn bộ nội hàm của văn hóa.
- Đúng, chỉ là một yếu tố cấu thành, chứ không phải là tất cả. Khi đánh giá trình độ văn hóa của một con người chỉ thông qua học vấn là lập tức chúng ta triệt tiêu những yếu tố khác của văn hóa, và sẽ có những cá nhân, cá thể thấy mình học vấn có bằng, có cấp  là tự nhiên coi những bằng cấp đó đồng nghĩa với những phẩm chất văn hóa. Nhưng sự thực thì không phải thế.

- Học vấn và văn hóa không trùng khít với nhau.
- Không trùng khít. Ta cứ nhìn hai phần, khách quan và chủ quan đi. Còn một phần nữa mà Hồng Thanh Quang vừa nói là, tại sao đang bị nhiễm cái  thói quen rất xấu, “thói quen paparazzi” ấy? Anh nói làm tôi nghĩ đến một chuyện: cách đây không lâu, có một anh nhà văn đến thăm một nhà văn nổi tiếng, đến nhà anh ấy chơi và chụp ảnh. Hồi đấy nhà văn nổi tiếng đó đang ốm,  đang bị yếu nhưng vẫn làm cơm mời khách, xong rồi chụp ảnh kỷ niệm. Hôm ấy nhà văn bị ốm đó, không kịp kéo phéc-mơ-tuya, hở ra đoạn quần lót…  Cái anh nhà văn đến thăm lại về viết bài, rồi lập tức đưa lên mạng cả cái ảnh đó. Và rất khoái tỉ kể là, nhà văn  nổi tiếng mà còn đãng trí thế này thế nọ... Tôi mới gọi điện cho tác giả bài viết, tôi nói, đừng nên làm thế, khi mà bạn đã đến nhà anh ấy được tiếp đón như thế thì một sơ suất nào đó không phải là điều để ta mang nó ra chế giễu. Thế là tác giả bài viết ngay lập tức xin lỗi tôi và hạ nó xuống. Đấy là chuyện thật.

- Trong chuyện này anh ứng xử rất tốt. Và tôi muốn hỏi anh một câu này. Với tư cách anh là một nhà phê bình văn học  mà tôi rất quý. Nói thực, chúng ta đều là những người trưởng thành từ quân đội ra và rất quý nhau, nhưng đến bây giờ tôi vẫn phân vân, có người nói, việc chính của phê bình văn học không để vạch ra những cái xấu, cái dở. Vậy tại sao anh lại chọn con đường mà tôi nghĩ dù tác dụng xã hội lớn nhưng rất không đơn giản, tức là chọn con đường làm “cây búa” thông qua bàn phím? Anh nghĩ thế nào khi anh tự chọn cho mình vai trò như vậy?
- Tôi đến với phê bình văn học hay nghiên cứu văn hóa hoàn toàn ngẫu nhiên thôi, tôi chẳng có chuẩn bị từ trước cũng không có ý định từ trước. Khi có thời gian khá dài tôi làm việc ở Khoa Triết học, mười mấy năm ở đấy, hồi ấy cũng rỗi, mình đọc sách triết học thì mới vỡ ra một thứ, nó là khoa học, nó cung cấp cho cách nhìn rất tốt, đặc biệt là những người làm khoa học thì cần phải có nó. Trong khi có nó rồi thì lại nhìn ra rằng, cần phải nhìn sự vật, cố gắng nhìn sự vật trong 5 nguyên tắc rất rõ ràng: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển. Bao giờ tôi cũng nhìn thế, chứ không bao giờ tôi chỉ nhìn một chiều. Khi tôi nhìn sự vật như thế rồi thì những gì bạn đồng nghiệp đã nói rồi thì mình nói lại làm gì nữa. Một điều hay, một tác phẩm hay, một tác phẩm có những phẩm chất đáng trân trọng cần phải được khẳng định, nhưng đồng thời hoàn toàn có khả năng là nó còn những khiếm khuyết. Đấy là một điểm. Khi có cái nhìn toàn diện thì người ta sẽ tránh được cái nhìn phiến diện, tức là anh nhìn tác phẩm từ một góc, thế thì tôi nhìn nó toàn diện, tôi nhận ra điều đó. Điểm thứ hai có lẽ là do cách tư duy, tôi có thói quen luôn lật đi lật lại sự việc để tôi xem nó là cái gì. Có một ông thầy tôi đã dạy tôi như thế này, khi anh gặp một hiện tượng thì anh có thể bỏ qua, nhưng khi anh gặp một sự kiện giống như thế lần thứ hai thì anh nên quan tâm đến nó. Và khi anh gặp sự kiện thứ ba đúng như thế thì anh phải đi trả lời câu hỏi tại sao nó lại thế. Cho nên tôi luôn nhìn sự vật như thế, thật ra những điều gọi là “Cây búa!” là tôi tếu thôi, để trong ngoặc kép, đánh dấu chấm than đàng hoàng chứ không phải là để khẳng định. Có một nhà nghiên cứu văn học khi đi giảng dạy ở một tỉnh xa lại nói, trong phê bình văn học bây giờ lại có một người tự nhận mình là cây búa. Tin đến tai tôi và khi gặp nhà nghiên cứu nọ, tôi hỏi, anh định nói ai đấy, trong giới phê bình thì ai tự nhận là cây búa, anh chỉ em đích danh để em “tỉ thí” với ông ấy. Thế là nhà nghiên cứu này lảng đi chỗ khác. Mình đùa nghịch thế thôi, ai đó có bảo gì tôi cũng được, không sao cả. Nhưng điều quan trọng là tác phẩm.

- Theo quan điểm của anh, phê bình văn học là cái gì? Trước hết là cái gì?
- Đó là sự tiếp cận và lý giải về tác phẩm.

- Từ góc độ nào?
- Từ góc độ các lý thuyết khác nhau đối với phê bình hiện đại.

- Chứ không phải từ góc độ cảm nhận cá nhân theo kiểu bới lông tìm vết, cũng không phải cảm nhận cá nhân theo kiểu tô vẽ, đúng không anh, phải cố gắng khách quan?
- Đúng! Khách quan!

- Trong hoạt động của anh, với vai trò “Cây búa!”, anh nhận một cách đùa cợt thế thôi, anh có nghĩ bao giờ mình đã “ngộ sát” không? Cách đây vài hôm, tôi có đọc được tin bác sĩ riêng của Michael Jackson cũng bị kết án tù vì tội ngộ sát. Ở trong cương vị của anh, trong làng văn, anh đã bao giờ “ngộ sát” ai chưa?
- Tôi chưa…

- Đã bao giờ anh bị cảm giác rằng anh đã nặng lời với ai đó quá?
- Có lúc có ân hận về chuyện đó chứ. Có lúc là gọi điện cho nhau…

- Xin cảm ơn anh!
*Ảnh trong bài: Minh Trí
Hồng Thanh Quang (thực hiện)