.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Wednesday, April 3, 2013

NHÀ THƠ TRẦN MẠNH HẢO: “NGUYÊN AN DÀNH CẢ BÀI VIẾT DÀI ĐỂ KHEN CON VỊT GIỐNG CON THIÊN NGA”

Nhà phê bình Hoài Thanh đã dặn hậu thế đại để như sau: đọc bài phê bình thơ mà thấy trích ra toàn thơ dở để khen lên mây, thì bài ấy không có giá trị gì cả. Ta nên đọc các câu trích trước, rằng thơ trích ra khen mà hay mới đọc, còn trích toàn thơ dở ra khen thì nên ném bài bình thơ ấy vào sọt rác.

Nguyên An trong bài viết: “Mấy suy nghĩ cùng “Đa cực và điểm đến” khen cuốn phê bình được giải của Văn Chinh hết lời mà không hề chứng minh. Nguyên An chưa có đủ trình độ phân biệt được đâu là văn báo chí đâu là văn phê bình văn học nên mới viết lung tung như vậy. Cuốn sách này của Văn Chinh dù viết về đề tài văn học nhưng chỉ là những bài điểm báo, điểm sách thuộc thể loại báo chí chứ chưa thể gọi là phê bình văn học được.
Nguyên An dành cả bài viết dài để khen con vịt giống con thiên nga thì không phải là phê bình tấu hài thì còn là gì nữa…
Hi vọng, báo Văn Nghệ nên tiếp tục in loại phê bình tấu hài để giải khuây thiên hạ; đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh mới khoái chí làm sao ...

PHÊ BÌNH KIỂU TẤU HÀI TRÊN BÁO VĂN NGHỆ

TRẦN MẠNH HẢO

Trên báo Văn Nghệ hai số 7 và 8 / 2013 có in bốn bài viết ca ngợi ba tập thơ được giải và một tập phê bình được giải văn học của Hội nhà văn Việt Nam 2012: “QUAY VỀ LỜI NỀN TẢNG – Đọc “trường ca chân đất” của Thanh Thảo” của Nguyễn Chí Hoan, “Phạm Đương người đi trên dây” của Đặng Huy Giang, “Trần Quang Quý và sự ám ảnh hiện hữu” của Mai Vũ và “Mấy suy nghĩ cùng “Đa cực và điểm đến” viết về tập phê bình được giải của Nguyên An…
Nếu thày giao chấm điểm văn là bạn đọc ra bốn đề văn như sau:
“Em hãy phân tích và chứng minh “trường ca chân đất” của Thanh Thảo hay hay dở? Vì sao hay, vì sao dở”
Cũng đề này được ra cho ba tập tiếp: “Giờ thứ 25” của Phạm Đương, “Màu tự do của đất” của Trần Quang Qúy, “Đa cực và điểm đến” của Văn Chinh.
Qua bài viết, tức bài tập làm văn của các tác giả: Nguyễn Chí Hoan, Đặng Huy Giang, Nguyên An và Mai Vũ… không chứng minh được bốn tập này là tập hay, ngược lại nó vô tình (hay cố ý) đều cho rằng ba tập thơ và một tập phê bình này đều nhàn nhạt, vô bổ, nghĩa là thậm dở.
Nếu các vị này cố chứng minh các tập thơ trên hay thì độc giả là ông thầy chỉ có thể cho các vị điểm ngỗng (tức 2 điểm).
Xin trích một đoạn trong bài viết của Nguyễn Chí Hoan; ông này đã trích ra đoạn thơ bậy bạ, dở nhất, dễ dãi nhất, tầm phào nhất của “Trường ca chân đất” của Thanh Thảo để khen hết lời thơ Thanh Thảo hay tuyệt như sau:
“Nét riêng trong cái nhìn mà trường ca này khai triển là dựa trên sự nhấn mạnh cái vẻ thô mộc đó, dùng sự nhấn mạnh đó theo kiểu xây dựng các mô-típ trong mỹ nghệ dân gian; chẳng hạn như ở đoạn trích dưới đây.

bác Năm Trì tàng tàng tàng
bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
trăng hạ tuần
nhớ lung mung
hình như tổ tiên mình có cái chén mẻ
gửi đâu đó bên dưới đế tháp Chàm
những ngọn tháp chỉ còn trong ký ức
Với nhịp điệu đan xen lối nói vần điệu dân dã tựa như “hát nói” và nhịp thơ tự do, đoạn thơ trên đây dựng lên ba hình ảnh: ông nông dân ngồi, ống quần rộng kéo quá đùi – mảnh trăng hạ tuần (xế/chếch) ngang đầu – nhìn sang ngang hình kỷ hà một ngọn tháp ước lệ làm nền cho hình đậm chiếc bát ăn cơm sứt mẻ; và chi tiết động tác “gãi háng” khiến thấy hình ông nông dân là một ảnh thực bên cụm ước lệ trăng-tháp có điểm nhấn bố cục là cái bát mẻ.
Tư thế và động tác trong hình ảnh này của nhân vật bác Năm Trì chính là điểm bộc lộ sự nhấn mạnh vào tính thô mộc của biểu đạt; và theo truyền thống, hình ảnh và động tác đó, như thể một vai hề gậy, biểu thị thái độ phản biện, phản kháng hay nhẹ nhất cũng là một cái cười mai mỉa, một lời chất vấn hay tự vấn. Và tính chất một mô-típ tạo hình ở đoạn thơ khiến có thể loại bỏ hoặc giới hạn phương diện “tục” trong cái “thô”, hay nói cách khác, là đưa cái “tục” với liều lượng được kiểm soát để biểu hiện sức phản kháng trước đau khổ bất bình, cũng là cái cười biểu thị hy vọng.”
(hết trích)
Nguyễn Chí Hoan đã chọn khổ thơ dễ dãi nhất, tầm phào bậy bạ nhất, dở nhất của Thanh Thảo để khen lên mây, dùng làm thí dụ cho “thi pháp gãi háng” thành trường thơ của “Trường ca chân đất”, đôn cái dở nhất thành hay nhất, tục tĩu nhất thành thanh tao nhất… để tha hồ tào lao xích bột, tán nhảm, bình càn, y như một kẻ không bình thường, hoặc một tay tấu hài hạng bét trong làng chọc cười, chọc quê…
Về việc này, vừa qua nhà thơ trẻ Thanh Tre, sau khi đọc bài bình có một không hai của Nguyễn Chí Hoan tâng bốc “Trường ca chân đất” của Thanh Thảo, đã gửi cho kẻ viết bài này đoạn thơ mô phỏng thơ “gãi háng” trên mà Thanh Tre thi sĩ cho là mình đã vượt qua thơ Thanh Thảo; xin trích thơ của tác giả Thanh Tre:
“Cô Sáu He cà lăm cà lăm cà lăm
Cô Sáu He quê Rạch Giá
Khuya trăng lu cô ngồi gãi mu
Sao Hôm mắc cỡ tắt ngúm
Cô vừa gãi mu vừa nhớ con chim cu
Thương bà cố nội cô có cái váy tổ đỉa
Chiếc váy còn phơ phất chiêm bao”
Trần Mạnh Hảo tôi xin mô phỏng lối bình thơ tấu hài của Nguyễn Chí Hoan mà bình đoạn thơ diễm lệ của thi sĩ Thanh Tre như sau:
“Từ “thi pháp gãi háng” tả thực của thi sĩ Thanh Thảo, thi sĩ Thanh Tre đã vượt qua cái bóng tiền bối mà nâng thơ lên thành “thi pháp gãi mu” hư ảo vô cùng, hàm súc dư ba. “Mu” của cô Sáu He so với “Háng của bác Năm Trì” sâu sắc và đa ngữ nghĩa hơn nhiều. Háng, nói cho cùng chỉ có nghĩa đen mà thiếu nghĩa bóng, chỉ có xác mà thiếu cái hồn. Háng của bác Năm Trì chợt biến thành chân tường của thi ca. Nhưng hình ảnh “Mu của cô Sáu He” thì vừa có không gian vừa có cả thời gian. Từ hình ảnh “Mu” thơ được mở ra không chỉ ba chiều ( ba góc = “chành ra ba góc dư còn thiếu- HXH”) , bốn chiều mà đa chiều, vô chiều khiến hồn người đọc cũng được hút vào thiên đường khoái lạc mà “mu” chính là cửa vào cực khoái thi ca. Hỏi có ai không bước ra từ cửa của cái mu này…? Mu là hình tượng cong đầy múp míp vòm trời. Các chân trời, các đụn cát, các vòm đồi, các đỉnh núi đều mô phỏng sự cong nẩy của mu cô Sáu He mà mơn mởn “tùm hum nóc” như thơ Hồ Xuân Hương…
Cám ơn thi sĩ Thanh Tre đã mang đến cho thi ca một “cái mu” thi pháp làm hầm trú ẩn cho thi ca muôn đời thập thò cua cáy nhân sinh. “Mu” trở thành vương miện của vương quốc sex mê ly kiếp người; “mu” chợt được thi sĩ Thanh Tre nâng lên thành triều thiên của thi ca tưởng thô tục mà cao sang vô tận. “Mu” không chỉ là thi pháp thơ mà còn là phạm trù thơ, hang hốc thơ, tiên thiên thơ, qủy cốc thơ…
Xin cám ơn “thi pháp gãi háng” của thi sĩ Thanh Thảo đã gợi cho thi sĩ Thanh Tre viết được câu thơ vĩ đại: “Khuya trăng lu cô ngồi gãi mu”. Thơ đang bay vùn vụt chợt đụng vào “háng” thì thơ dù đã học được phép xuyên tường cũng phải dừng lại, bởi vì sau háng là xương cứng như sắt mà thơ không thể gặm. Nhưng sau “Mu” thì quả là còn vô cùng thế giới, là thiên đường của thi ca, nơi thi ca lên đỉnh Vu Sơn khoái lạc chợt hét lên, rú lên niềm thú tính con người… Thơ, nói cho cùng phải đạt đến mức sướng muốn chết….”
Cứ đà bình kiểu Nguyễn Chí Hoan này, có thể xuất hiện một luận án tiến sĩ về thi pháp thơ ca: Thơ trong quá trình tiến hóa từ “thi pháp gãi háng” tả thực sang “thi pháp gãi mu” hư ảo… Nguyễn Chí Hoan, hiện là trưởng ban lý luận phê bình báo Văn Nghệ nếu làm luận án tiến sĩ về đề tài này chắc chắn sẽ được hội đồng giáo sư phản biện vỗ tay vang trời. Trần Mạnh Hảo xin biếu không ý tưởng này cho ông Hoan, chỉ xin một li café nâu nhuận bút mà thôi…
Chúng tôi xin trích một đoạn trong bài: “Phạm Đương người đi trên dây” của nhà thơ Đặng Huy Giang, bốc thơm tập thơ “Giờ thứ 25” (tên tập thơ ăn cắp tên của cuốn tiểu thuyết lừng danh thế giới của văn hào C. Gheorghiu) như sau:
“Ở đâu đó, ta bắt gặp một lối diễn đạt mạnh bạo: Từng cơn gió dại chưa tiêm phòng/ phập vào anh những dấu răng chí mạng (Gió dại); một cách diễn đạt cô đọng như châm ngôn: Không một nhà tù nào có thể nhốt được khát vọng/ không một xiềng xích nào có thể giam được cái ác (Hạt thóc và bom); một cách nói rất khác: Tôi bị chiều luộc chín từng khúc/ bằng chiếc nồi áp suất nhớ nhung (Khuya 1), tôi dát mỏng sự tử tế hiếm muộn của mình/ liền gặp ngay một cơn thịnh nộ/ đừng nhân danh lòng tốt, bạn ạ và đáng nói hơn là một cách nhìn khác.
Tiêu biểu cho cách nhìn khác được bộc lộ sinh động qua Lính đất Mũi. Đây là bài thơ độc đáo, mang nặng chất phát hiện của Phạm Đương:

Từ độ cao mười mét
những chiếc dù bung ra
rồi bám vào đất mà thở
rồi bám vào biển thành nhà

ở đây không cần khẩu lệnh
vẫn hàng ngang hàng dọc thẳng đều
cứ thấy bùn là tiến
nhìn triều xuống mà theo
giăng mắc ngang chiều những
sư đoàn binh đoàn
âm thầm cắm rễ
giăng mắc ngang trời nơi cửa sông
câu ca mở cõi

khoác trên vai những người lính nơi này
bộ quân phục phù sa
mang về từ châu thổ

phía trước mặt là bước chân mở đất
phía sau lưng là đôi tay giữ nước
trĩu nặng hai vai đất đai Tổ quốc

những - người – lính - đước.

Có lẽ, chưa có người làm thơ nào viết về những cây đước khái quát và khác lạ đến vậy.
Tất nhiên, Phạm Đương không chỉ có Lính đất Mũi mà còn có Biên tập, Tạp âm, Những mảnh vỡ, Trong đáy cốc, Gió dại, Hạt thóc và bom… nữa.
Đây là những câu ấn tượng trong Hạt thóc và bom:
Chúng ta cười vui chúng ta mếu máo
chỗ này tung hô chỗ kia lếu láo
chúng ta đang đi trên những chiếc dây
căng qua đời sống
tìm sự thăng bằng giữa hạt thóc và bom.
( hết trích)
Những câu thơ Phạm Đương (nhại thơ TÂN CON CÓC lẩn thẩn, lảm nhảm của Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều) trên đây do Đăng Huy Giang trích ra khen đều là những câu đại ngôn, sáo mới, sến, dễ dãi, thậm chí nhảm nhí, tầm phào há không phải là phê bình tấu hài hay sao?
Trần Mạnh Hảo xin mượn mấy câu thơ dễ dãi, đại ngôn và khiên cưỡng lại buồn cười của Phạm Đương do Đặng Huy Giang khen hay để giễu nhại cho đỡ tẻ:
“Từng cơn gió dại chưa tiêm phòng
phập vào anh những dấu răng chí mạng” (P Đ)
“ Từng tên ác dâm chưa bị hoạn
Phập vào em những dấu chim chết ngất” (thơ nhái)
“Tôi bị chiều luộc chín từng khúc
bằng chiếc nồi áp suất nhớ nhung” (P Đ)
“Tôi bị đêm rán thành mỡ
Bằng chiếc chảo em yêu “ (thơ nhái)
“Không một nhà tù nào có thể nhốt được khát vọng
không một xiềng xích nào có thể giam được cái ác” (P Đ)
“Không một bướm em nào nhốt được anh chim
Không một cái chai nào có thể nhốt được rượu tình (thơ nhái)
Mai Vũ trong bài: “Trần Quang Quý và sự ám ảnh hiện hữu” ca ngợi tập thơ “Màu tự do của đất” lên mây bằng trích ra toàn thứ thơ dễ dãi, sáo rỗng, cùn mòn, nói lấy được, chẳng cần hàm súc, dư ba, chẳng cần hình tượng, hình ảnh, biểu tượng, rất dở, cứ tràn ra vô tội vạ như nước cống:
“Ngoặc đơn tác giả viết: “Nỗi buồn trong cấu trúc cô đơn/ chiếc ngoặc mong manh gông cùm phận chữ/ những con chữ một đời vai phụ/ những con chữ chỉ giản dị làm phu giải nghĩa/ cũng một đời thèm/ tháo ngoặc/ Tự Do!”.
“Tôi đọc trên đất những bước đi ngắn, những bước đi dài/những khi bước thấp, những khi bước cao/bài học ban đầu/thuở còn lẫm chẫm/trang sách nhân gian đất bày vô tận/…Một đời khát vọng/tìm gió/theo mây/mới hay mọi điều học ngay từ đất” (Từ đất)
Ánh sáng của một ngày tự thức/ ánh sáng len lỏi vào ngõ quen, vào ngóc ngách vô cảm/ đánh thức bản nguyên/ cởi nút thắt bóng tối nằm hoang muội trong bức tường câm thức/ Ánh sáng dẫn tôi bò qua những con dốc nhịp thở/ gõ cửa trái tim cảm hứng/ bánh xe trật tự khởi quay/ và bật dậy trong tôi những lãng quên biền biệt chân trời… ánh sáng khoan thoai trong khung cửa ngộ thức/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình”.
“Tôi đọc trên đất những bước đi ngắn, những bước đi dài/những khi bước thấp, những khi bước cao/bài học ban đầu/thuở còn lẫm chẫm/trang sách nhân gian đất bày vô tận/…Một đời khát vọng/tìm gió/theo mây/mới hay mọi điều học ngay từ đất”
Các nàng liếc nhìn tôi bằng sâu thẳm bầu trời thị giác/ bằng cả những phía sau cong mi… Tôi đi qua ngàn năm để đỏng đảnh một chiều váy ngắn… Sông hổn hển kể những ngày nàng thôn nữ ra bến quê giặt yếm/ khỏa những nụ cười duyên/ giặt cái dịu dàng, giặt phồn thực/ các nàng giặt tôi, kì cọ tôi bằng chiều quê cổ điển/ bằng cổ tích Ba Vì, bằng cả bây giờ quần jean, tóc hấp”:
“Trong mắt rắn, dĩ nhiên rồi ta cũng loài rắn/ngôn ngữ của trườn bò…Trong mắt bầy khuyển kia, làm sao khác ta cũng thành đồng loại/ những cơn tru hoang (tiếng người hóa dại)/ ngày thấp thỏm quạ kêu, đêm chập chờn cú rúc/ những con mắt gài quanh bờ giậu/ lách nhách cắn bóng đêm hay tự sủa phận mình/ có cái chết trong bầm rập vết răng đồng loại/ có bước chân côi cút lẻ bầy” (Đồng loại)”
Mai Vũ đưa thơ dở của Trần Quang Qúy ra ca ngợi lại chẳng phải là phê bình tấu hài hay sao?
Nhà phê bình Hoài Thanh đã dặn hậu thế đại để như sau: đọc bài phê bình thơ mà thấy trích ra toàn thơ dở để khen lên mây, thì bài ấy không có giá trị gì cả. Ta nên đọc các câu trích trước, rằng thơ trích ra khen mà hay mới đọc, còn trích toàn thơ dở ra khen thì nên ném bài bình thơ ấy vào sọt rác.
Nguyên An trong bài viết: “Mấy suy nghĩ cùng “Đa cực và điểm đến” khen cuốn phê bình được giải của Văn Chinh hết lời mà không hề chứng minh. Nguyên An chưa có đủ trình độ phân biệt được đâu là văn báo chí đâu là văn phê bình văn học nên mới viết lung tung như vậy. Cuốn sách này của Văn Chinh dù viết về đề tài văn học nhưng chỉ là những bài điểm báo, điểm sách thuộc thể loại báo chí chứ chưa thể gọi là phê bình văn học được.
Nguyên An dành cả bài viết dài để khen con vịt giống con thiên nga thì không phải là phê bình tấu hài thì còn là gì nữa…
Hi vọng, báo Văn Nghệ nên tiếp tục in loại phê bình tấu hài để giải khuây thiên hạ; đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh mới khoái chí làm sao .,.
Sài Gòn ngày 14-3-2012

NHÀ THƠ TRẦN MẠNH HẢO

NHÀ PBVH NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: “VĂN THƠ VIỆT NAM, ĐẶC BIỆT Ở THƠ MẬU DỊCH CÒN Ở TRÌNH ĐỘ THÂN MỀM”


Không có nhân vật, tức là cốt tủy yếu, như chiếc bánh đa tự chịu lực, không thể tạo thành tác phẩm lớn, chính thế mà một lãnh đạo văn chương đã thú nhận “trong ao không có cá to, chúng ta đành bắt tép”. Tép, tôm cũng là những thứ không có xương cốt, chúng lấy vỏ cứng để tạo ra độ lớn của mình, nhưng số phận lại bắt chúng phải gánh một định mệnh trớ trêu: đem cứt lên đầu làm cơ quan kiêu hãnh và tư duy.


Sự tiến bộ của loài người không cái nổi là thế này: những loại thân mềm có trước, sau đó mới là loài có xương sống. Chỉ khi có xương sống tức một cột trụ cứng dâng lên thì bộ não mới đích thực xuất hiện. Văn thơ Việt Nam, đặc biệt thơ mậu dịch còn ở trình độ thân mềm, chưa có hình bóng của tư duy, chưa có khung xương của lý trí, mới chỉ có tí nhũn nhẽo của cảm xúc lè tè, thì làm sao có thể vươn lên những đỉnh núi có kỳ hoa dị thảo?

PHI NHÂN VẬT BẤT THÀNH VĂN HỌC

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Nếu không có con người chắc hẳn không có xã hội và thế giới. Vậy con người (chí ít về mặt nhân văn) phải được sinh ra từ Đấng sáng tạo! Và theo đó, không có nhân vật thì chắc chắn  cũng không thể có tác phẩm văn – thơ! Đấng sáng tạo sinh ra vũ trụ càn khôn cùng con người làm chủ tể muôn loài. Nếu không có các nhân vật như con người, các loài động thực vật, thì chắc hẳn vũ trụ chỉ là một tinh cầu hoang phế không có gì để nói! Và cũng vậy, nhà văn, nhà thơ nếu không có thể trở thành “đấng sáng tạo” cho tác phẩm của mình, nghĩa là tạo ra các nhân vật thì chắc hẳn tác phẩm chỉ còn là thứ thế giới vô nghĩa, ất ơ, hò xướng vớ vẩn.

Ngay từ trong nôi, những đứa trẻ của mọi dân tộc đã được nghe tiếng ru hay lời kể chuyện về một ông tiên hay mụ phù thủy nào đó, ngay cả việc có một đồng xu hay một gói quà nhỏ bỏ vào chiếc giầy bé xíu của bé đêm Nô-en, cũng phải là những nhân vật như ông già tuyết cưỡi xe lộc tuần kéo đến bỏ vào đó. Trẻ con dù trí tuệ yếu ớt, nhưng chúng cũng chỉ có thể tin được vào một sự việc có chủ, tức một nhân vật nào đã làm điều gì đó dù thiện hay ác. Đấy cũng là thứ tư duy căn bản của triết học, khi cho rằng mọi thứ sinh ra không thể từ hư vô. Người Trung Quốc còn nói “oan có đầu, nợ có chủ”. Làm sao có món nợ nào từ trên trời rớt xuống nếu không do người này đã từng mượn của người kia, càng không thể có tội ác tự nhiên mọc mầm, mà là giết vua giết cha không thể xảy ra trong một sớm một chiều, mà chúng phải được tích lũy bằng dồn nén cũng như âm mưu từ lâu.

Cách tự nhiên, một đứa trẻ sinh ra đã muốn nghe chuyện, và không gì khác ngoài chuyện có thể quyến rũ được nó, ngay khi bà và mẹ hát ru cũng phải có chuyện, chứ không thể hát xuông, và chuyện cũng chính là cách tốt nhất để giáo dục nhập tâm cho trẻ. Một lời ru bình thường cũng phải có chuyện như:

             Con cò, con vạc, con nông

             Sao mày là mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò

             Không không tôi đứng trên bờ

             Mẹ con nhà vạc đổi ngờ cho tôi

             Không tin ông ra mà xem

Lời hát ru trên reo vào lòng đứa trẻ biết bao nhiêu giá trị ngay tức thời không thể lý giải. Trước hết là có mấy nhân vật: cò, vạc, nông. Và chúng đã phạm lỗi khi dẫm lúa nhà ta ( mặc nhiên là nhà của đứa bé ), ở đó khung cảnh cũng được mở ra, với ruộng lúa và trên bờ, và có một tinh thần bên trong rất trí tuệ, đó là “không tin ông ra mà xem”.  “Xem” là động từ thực chứng bằng mắt, lời ru đó đã gieo vào đầu đứa trẻ: muốn chứng tỏ mọi sự hàm oan ở đời thì cần phải trực tiếp nhìn. Nhưng lần ngược lời ru, đó là một tình cảm đầy đối thoại và bổn phận. Cái cò, cái vạc, cái nông kia, nó là chim trời, nhún chân một cái bay đi, sợ gì ai, vậy mà vừa bị đổ lỗi, nó đã thanh minh “tôi đứng trên bờ”… Điều này đã truyền dẫn cho trẻ nhỏ một tình cảm và ý thức rằng, trên cánh đồng của chúng ta, mọi việc sẽ bị phơi bày và phải chịu trách nhiệm, từ sự phạm lỗi, đến đổ tội, hay thanh minh, hoặc đòi thực chứng, thì sẽ phải diễn ra như kịch bản của lời hát ru.

Có một phương ngôn vĩ đại rằng: “Con người không có quá khứ chẳng khác nào quốc gia không có lịch sử”. Đúng vậy, quốc gia không có lịch sử sao gọi là quốc gia! Một con người chưa có quà “sú-vơ-nia” (souvenir) theo tiếng Pháp nghĩa là “đã từng đến” thì làm sao gọi là con người. Cái chính yếu của lịch sử là “Biên niên sử”, “niên” tức là Năm, cũng có nghĩa, lịch sử quốc gia chủ yếu được ghi theo Niên đại. Lịch sử theo gốc chữ Latin là “Histoire”, tiếng Anh viết là “history”. Lịch sử dịch nghĩa đen, cũng có nghĩa là “câu chuyện”. Chẳng hạn nhân vật chiếc bàn của văn học có thể kể: xưa kia tôi sinh ra từ một thân cây, rồi người tiều phu đẵn cây, người thợ xẻ cắt gỗ, người thợ mộc đóng bàn… “câu chuyện về chiếc bàn” cũng được coi như “lịch sử về chiếc bàn”. Tiếng Anh (và tiếng Đức) có hai từ riêng biệt là: “story” – tức câu chuyện, và “history” – tức lịch sử. Nhưng trong tiếng Pháp, người ta không biệt giữa lịch sử và câu chuyện, cả hai đều được phản ánh qua từ “histoire”.

Không có ký ức không có con người! Không có lịch sử không thành quốc gia! Không có nhân vật sẽ không có khởi nguồn cho bất kể câu chuyện nào! Mà không có câu chuyện thì không cám dỗ nổi dù chỉ đứa trẻ con! Vậy thì lý giải thế nào về mấy trăm bài thơ không có cốt chuyện và nhân vật của Việt Nam? Chắc chắn đó là những thứ nhạt nhẽo thất bại ngay cái nhìn đầu tiên! Đó cũng là sự bất lực đại trà nhước thiểu của trí tuệ văn thơ Việt.

Không có nhân vật, tức không có những điểm vặn ốc hay giường cột cho tác phẩm. Những thứ nhẹ thõm như chiếc bánh đa chẳng hạn nó không cần xương cốt vì nó quá nhẹ, đến khi nướng lên nó cứng và tự chịu lực chính bản thân mình, nhưng chỉ cần một va chạm nhẹ nó vỡ tan tành! Chùa Một Cột kia chỉ to hơn manh chiếu mà người ta đã cần đến giường cột, và chiếc cột chịu lực cũng như những đòn ngang được thể hiện ngay dưới bệ đỡ của sàn.

Tại sao, hầu hết trường ca của Việt Nam, đặc biệt của mậu dịch không có cốt chuyện và nhân vật, vì thẳng thắn nói, các nhà thơ chẳng có gì để kể cả. Nhân vật thì phải có tư tưởng và hành động, ngay Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo thuộc loại đàn anh đầu bảng của quốc doanh mậu dịch kia, cũng chỉ có lèo tèo bác Năm Trì ngồi gãi háng. Bác là một nhân vật gãi háng và văng tục, bác chẳng hành động gì như bám biển bám trời, hoặc tuyên ngôn một điều gì xứng đáng, bác chỉ có thể văng “đếch” vào những kỳ quan của loài người như Vạn Lý trường thành. Ở đời không khao khát cái vĩ đại làm sao có thể với tới hay làm ra cái vĩ đại? Vì thế bác năm Trì chỉ mãi mãi là chân đất mà thôi. Đã là trường ca thì cái tối thiểu phải có nhân vật (như trên đã bàn không có nhân vật không có thế giới), vậy mà người ta cứ nhồi nhét gán ghép bằng được để trao giải và tung hô nhau thì thật phi lý. Từ giờ, tôi xin mọi người hãy dứt khoát nhìn nhận: không có nhân vật thì không phải là trường ca. Nếu có gọi là trường ca và trao giải cho nhau thì chỉ là cách ăn gian trắng trợn.

Không có nhân vật, tức là cốt tủy yếu, như chiếc bánh đa tự chịu lực, không thể tạo thành tác phẩm lớn, chính thế mà một lãnh đạo văn chương đã thú nhận “trong ao không có cá to, chúng ta đành bắt tép”. Tép, tôm cũng là những thứ không có xương cốt, chúng lấy vỏ cứng để tạo ra độ lớn của mình, nhưng số phận lại bắt chúng phải gánh một định mệnh trớ trêu: đem cứt lên đầu làm cơ quan kiêu hãnh và tư duy.

Sự tiến bộ của loài người không cái nổi là thế này: những loại thân mềm có trước, sau đó mới là loài có xương sống. Chỉ khi có xương sống tức một cột trụ cứng dâng lên thì bộ não mới đích thực xuất hiện. Văn thơ Việt Nam, đặc biệt thơ mậu dịch còn ở trình độ thân mềm, chưa có hình bóng của tư duy, chưa có khung xương của lý trí, mới chỉ có tí nhũn nhẽo của cảm xúc lè tè, thì làm sao có thể vươn lên những đỉnh núi có kỳ hoa dị thảo? Xin trao đổi để mọi người cùng suy ngẫm. Cám ơn nhiều!

14/03/2013

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC


NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG: TRÒ CHƠI HUỶ DIỆT CẢM XÚC - PHẢN ÁNH THÂN PHẬN PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI MỘT CÁCH XUẤT SẮC


ĐỖ HOÀNG
Nhà văn Y Ban nổi tiếng trên văn đàn với tác phẩm Bức thư gửi mẹ Âu Cơ và I am đàn bà trước đây trên dười hai thập kỷ. Lần này chị cho ra mắt cuồn sách mới viết về thân phận người phụ nữ Việt Nam đương đại.- Trò chơi huỷ diệt cảm xúc. Đây là, cuốn tiểu thuyết thứ ba và cuốn sách thứ 15 của tác giả. Y Ban là nhà văn nữ hàng đầu viết về vấn đề nóng hổi thời đại - thân phận bầm dập của phụ nữ Việt Nam hôm nay.
Thể chế nào, thời đại nào người phụ nữ có mặt trên cõi đời này đều khốn khổ. Ngay cả con gái vua chúa cũng khổ. Tiền nhân đã viết: Nhân sinh nữ tử thị tối khổ (Ở trên đời con gái là tột cùng khổ - Đời con gái khổ tận cùng/ Bùn đen bầm dập, cái cùn (1) xác xơ ) - quần. Họ khổ đến mức như nhiều người đã viết là họ không biết khổ nữa, họ cũng không biết sướng là gì. Cho họ sướng họ cũng không sướng được! Có nhiều quốc gia bạo tàn, đàn bà con gái là hàng hoá, là đồ chơi của đàn ông!
Đất nước Việt Nam bốn nghìn năm máu lửa, bốn nghìn năm chiến tranh xương khô cốt tàn thì người phụ nữ Việt Nam khốn khổ vào loại đứng nhất thế giới:
Xương trắng phơi lối ra tiền tuyến
Mổ gái tơ diều liệng, chồn giay
Lớp này rồi lớp khác thay
Màu cờ lau trắng rợn lay sa trường!
(Lính gái - Tâm sự người lính - Đỗ Hoàng - 1973)
Chị em hợp tác, hợp te
Không có mảnh vải mà che cái lồn!
(Ca dao mới)
Họ cơ cực khốn cùng trong chiến tranh, họ xác xơ trong lao động, họ quằn quại rên xiết trong hoạt động sinh tồn nòi giống:
Đang khi đỏ lửa cơm sôi
Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem
(Ca dao)
Cái tòm tem - Cái truyền giống, cái cực khoái con vật nó còn tận hưởng được nhưng người phụ nữ đương đại trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc là một cực hình là án oan nghi vấn mà anh chồng treo lên trên cổ vợ. Khi làm tình ả lên cơn sướng, muốn thể hiện lòng yêu chồng, ả kêu lên: anh ơi, thì ông chồng nghi ngờ ngay. Vì sao không gọi giời ơi như thường ngày mà gọi anh ơi? Chắc là con vợ ngoại tình với thằng nào mới kêu tên anh ơi như vậy! Ông chồng luôn ngoại tình nên ông mới biết khi đạt cực khoái hay kêu tên tình nhân để lên nhanh điểm đỉnh nên mới nghi oan cho vợ.
Cái khác người nữa là khi ngủ với chồng, ả không gọi tên chồng mà ả gọi giời ơi. Ôi giời ơi. Ơ ơ ơ ơi.... nhiều lúc cùng với tiếng rên rỉ. Chồng ả rất khoái cái việc ả rên rỉ gọi Giời. Thì cũng đúng thôi. Khi con người ta cầu xin điều gì thì hay lạy trời. Hôm áy đang trên một đỉnh ả rên rỉ giời ơi, chồng ả cho lên tiếp đỉnh thứ hai. Vuốt ve tấm lưng chồng, ả bám chặt vào vai, bỗng lên cơn thương chồng ả gọi anh ơi. Chồng ả đang hăng hái bỗng nhiên chùng xuống, kết thúc. Sau cơn thở dồn dập chồng hỏi:
- Nhớ đến thằng nào mà gọi anh ơi như vậy?
- Nhớ cái thằng đang nằm trên ấy. Bao nhiêu năm rồi không được gọi tiếng anh ơi cho ngọt.
- Mày có vấn đề rồi đấy. Anh nào?
(Trang 18 - 2 dưới lên; trang 19 - 1 trên xuống - Trò chơi huỷ diệt cảm xúc)
Trơ trẽn, tẽn tò, xấu hổ không khác gì người đàn bà trung tuổi trong Trăm năm cô đơn của Maz quezt muốn được ra đồng hoang làm tình để hét to lên một tiếng như bò rống cho đã cơn cực khoái lúc lên đỉnh.
Khi đô thị về làng, đất chuyển đổi làm dự án, gia đình có tí tiền thì thằng chồng sinh hư, rượu chè, cờ bạc. Người vợ trong lúc bột phát giết người phải vào vòng lao lý. Tiền của lại đội nón ra đi. Người phụ nữ khổ lai hoàn khổ!
Mây - Trang 52)
Tao giết chồng mày rồi. Mày mang hai đứa con này về nhà mẹ tao nhờ ông bà nuôi hộ. Tao đi tù đây.
(Trang 60 - 4 - dưới lên - Sách đã dẫn)
Những cô gài trẻ hơn thân phận cũng chẳng sáng sủa gì so với những người phụ nữ lớn tuổi. Khi mại dâm trá hình về làng thì họ là loài bò lạc được cả ông Tây, ông Tàu mê mẫn. Rồi thì tâm hồn tan nát, thân thể bầm dập, căn bệnh thế kỷ HIV, si da chẳng tha họ bao giờ. Nòi giống Việt đi về đâu?
- Làng em có nhiều người bạn làm như em không?
- Cũng nhiều đấy chị ạ.
- Em được trả nhiều tiền không?
- Một lần như thế được một trăm nghìn đồng.
(Nước - trang 77 - 4 - trên về - Sách đã dẫn)
Thân phận phụ nữ trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc còn quằn quại vì cái đám đông nữa.
Cái đám đông số không ấy, đám chúng khẩu đồng từ (cả đám đồng hô lên một tiếng là chết hết) cái đám đông vô sản lưu manh vô cùng nguy hiểm mà các thế lực bạo tàn thường sử dụng nó như một diệu sách.
Đám đông giải tán. Kỳ lạ, những đám đông này rất ít đàn bà. Những người đàn bà đang còn mãi làm việc.
(Đám đông - Trang 65 - 2 - dưới lên- Sách đã dẫn)
Và người đầu tiên chết dưới cái lưỡi dao oan nghiệt của đám đông vô sản lưu manh lại chính là người phụ nữ.
Người phụ nữ công chức trong Trò chơ huỷ diệt cảm xúc còn chịu một khổ hình nữa là bị áp lực công việc, bị đàn áp của cấp trên, bị trù úm bị vụ cáo một cách trắng trợn nếu không được lòng thủ trưởng, không đáp ứng yêu cầu vật chất hoặc yêu cầu tình dục của thủ trưởng.
Trong thể chế đảng chủ của ta, từ hiệu phó mầm non trở lên cũng phải đảng viên thì phụ nữ, con gái tơ, người đẹp là những nạn nhân vô cũng tang thương. Có nhiều thủ trưởng yêu râu xanh từ cấp thấp lên cấp cao đã ngủ hết đàn bà trong cơ quan như một con dê đực canh cửa chuồng mỗi sáng khi dê cái ra chuồng. Không cho ngủ không được. Có người vì lên lương, vì chức vụ, vì đi nước ngoài, vì trăm thứ mà phải hiến dâng miễn phí cho thủ trưởng. Ngủ là một tai nạn đã đành, có thủ trưởng còn muốn nhân viên nữ đẻ con với mình nữa. Chị em hôm nay chẳng khác gì ông bà họ ngày xưa:
Đẻ ra đứa con chẳng biết nó giống ai
Cái đầu thì giống ông xã, cái tai thì giống ông trùm
(Ca dao)
Đẻ ra đứa con là biết nó giống ai
Cái đầu của Bí thư, Chủ tịch, còn cái rái khoai của ông Đảng, đoàn
(Ca dao mới)
Linh trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc cứng rắn, cương quyết không dại dột nằm ngã ra cho thủ trưởng xài, thủ trưởng không được xơ múi gì nên quay ra trả thù. Cách hay làm là vu oan giá hoạ, vu cáo, đuổi việc, đưa ra khỏi cơ quan:
Thủ trưởng cướp lời thủ phó. Cô Linh là người ăn cháo đá bát.Bài bạn tôi đưa cô không cho đăng, bài của tôi viết cô tự cắt xén...Chữ của tôi là chữ vàng, chữ ngọc.Tôi đưa cô lên Trưởng Ban...
(Kiêu căng tự phụ, vô pháp, vô thiên - trang 87 - 8 trên xuống - Sách đã dẫn)
Nỗi niềm ấy của Linh và của nhiều người phụ nữ khác biết bày giải với ai.
Bức thư những đắn đo muốn viết
Viết cho ai, ai biết mà đưa
(Dương Khuê)
Đông liêu nghe thủ trưởng xa lánh, người chồng ham các mẩu vật khảo cổ học, con thì bé dại, bày giải với ai đây?
May thay có trò chơi trực tuyến đã lập trình sẵn, cô Kim, (tên ních nhân vật) dã gặp được người tình ảo tri âm tri kỷ trên mạng để bày giải nỗi niềm để nói hết thân phận người phụ nữ hiện đại Việt Nam đầy bản lĩnh thông minh và cũng chịu nhiều truân chuyên, bất hạnh.
Như chúng ta đã biết, trước đây Lan Khai viết tiểu thuyết tả thực Lầm Than bị phong kiến và thực dân Pháp dánh cho lên bờ xuống ruống. Sau đó Lan Khai phải quay về viết tiểu thuyết lịch sử Việt Nam người đi về đâu. Các nhà văn Việt Nam hiện đại như Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải và mọt vài tác giả nhỏ nữa cũng tìm viết đề tài lịch sử cho an toàn tính mạng. Viết đề tài lịch sử tha hồ chưởi vua quan độc ác, chưởi lý trưởng chánh tổng hiếp dâm, thật đã đời, thật sướng mồm. Rồi lại được giải thưởng văn chương, lại có danh vị.
Nhà văn Y Ban thừa sức làm đều đó. Nhưng chị không né tránh hiện thực,từ Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, I am đàn bà đến Trò chơi huỷ diệt cảm xúc chị xông thẳng vào vẫn đề nòng hổi của thờ đại "Giải phong phụ nữ là giải phóng cả thế giới" chị viết về thân phận phụ nữ đương đại của dân tộc mình. Y Ban dấn thân vì nghệ thuật. Văn chương tuyên truyền (văn chương mậu dịch - từ hiện đại) và văn chương phù phiếm không quyến rũ được chị. Y Ban biết xa lánh chúng.
Nghệ thuật lần bước giữa hai vực thẳm, một bên là chương tuyên truyên, một bên là văn chương phù phiếm. Trên đỉnh cheo leo là con đường đi của nghệ sỹ, mỗi bước tiến là cả một cuộc phiêu lưu, một cuộc mạo hiểm cực độ. Nhưng quyền tự do nghệ thuật ở trong sự mạo hiểm đó và chỉ ở trong đó thôi.ầi dấn thân người ấy thành công!
(Sứ mệnh văn nghệ - Cammuy)
Và Y Ban cũng đã thành công!
Về nghệ thuật Trò chơi huỷ diệt cảm xúc là cuốn tiểu thuyết có bố cục rất mới, không lặp lại hình thức cuốn sách nào. Văn phong của Y Ban ngắn gọn súc tích, mạnh mẽ, hóm hỉnh - amus, âm vang có độ truyền cảm lớn.
Ả là người đàn bà thoả mãn. Thì đó cũng là một bề. Ả không là người chủ động. Ả hưởng thụ và có sự hợp tác mềm dẻo. Ngày trước khi kinh tế nhà ả còn khó khắn, cái giường hay kêu cót két thì ả nằm trên nền đất...Khi kinh tế khá rồi ả tự thưởng cho mình hắn một chiếc sập gụ. Chiếc sắp ả thửa đúng với khẩu chân của chồng. Để anh chàng vác bừa chạy qua núi không phải quá chật vật.
(Trang 18 - 2- trên xuống - Sách đã dẫn)
Đồi thoại của Y Ban rất tuyệt. Người ta nói viết truyện ngắn và viết tiểu thuyết khó nhất là đối thoại. ai viết hay là một bậc thầy.
- Nó tên gì?
- Trạch Văn Đoành.
- Tên gì như súng bắn liên thanh vậy.
...
Nghề gì?
- Lang
- Lang thang!
(Truyện ngắn Nam Cao)
- Nhớ đến thằng nào mà gọi anh ơi vậy?
- Nhớ cái thằng đang nằm trên ấy. Bao nhiêu năm rồi không được gọi tiếng anh cho ngọt.
- Mày có vấn đề rồi đấy. Anh nào?
- Anh là mày, là giời. Giời của tao.
(Một người đàn bà - 9 - trên xuống - trang 19 - Sách đã dẫn - Y Ban)

hay:
- Có chuyện gì vậy?
- Có vẫn đề . Sao rắm lại to thế?
- Rắm à? Rắm gì? Rắm nào?
- Rắm rít chứ rắm nào?
(Trang 63 - 1 - trên xuống - Sách đã dẫn - Y Ban)
Đối thoại thật là tài.
Trò chơi huỷ diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban là một tác phẩm văn học tiêu biểu không chỉ của năm 2012 mà cả những năm của thập kỷ đầu XXI này.
Hà Nội, ngày 15 - 3 - 2013
Đ - H