.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Tuesday, July 2, 2013

THÁI KIM LAN: NHÀ THƠ LÊ ĐẠT “ƯỚC LÒNG CHỮ TRẮNG NHẸ TÊNH…”


Đầu năm 1999, nhà Văn hóa Thế giới ở Berlin gửi xuống Muenchen cho tôi ngót chục bài thơ, nhờ chuyển ngữ sang tiếng Đức cho tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Berlin vào cuối tháng 3 năm ấy. Như thường lệ không đắn đo, tôi sốt sắng nhận lời.
Nhà thơ Lê Đạt
Mãi sau này mới biết ra lẽ, cái duyên tại sao mình được chọn: Tác giả những bài thơ là Lê Đạt.

Rồi cuộc dịch thơ trở nên một trận toát mồ hôi, chẳng biết nhà thơ đã làm khổ chữ đến đâu, mà mười mấy năm sau thổ lộ, chữ đã làm khổ nhà thơ đến cả một tạ mồ hôi - chuyện ấy chắc… cũng thường cho Việt Nam nóng bức - còn tôi, chưa bao giờ trong đời đã có một trận dịch bở hơi tai, một trận đụng độ chữ nghĩa cam go đến thế, nhớ lại vẫn còn thấy… ê vai.

Thì có ngờ đâu mà kịp thủ thế - cứ tưởng thơ là thơ trơn lu, thế mà mới đọc là va đầu ngay vào những con chữ kỳ lạ, những cấu trúc ngược, những cạm bẫy của dấu nhấn, chấm phết, xuống hàng, bỏ lững; những chữ ghép ra khỏi mọi quy tắc, những chữ “con” thành “cả”, “đại” thành “tiểu”, “nghiêm mà đùa”, thanh mà tục - chưa thấy một chữ nào thật tục trong thơ Lê Đạt - nhiều con chữ gói cả một nền văn học vào trong, mà khi được chuyển ra ngoại ngữ, nó đánh mất tất cả khối lượng văn chương… Đọc thơ mà như đang rơi giữa thinh không:

Tim ghép ngọt góc cằn xuân bỏ hóa
Máu chửa hoàn hồng tình cả dạy non
Mộng đằng ngà bướm vẫn son ăn mạ
Vô tâm
Hay em ghép quả bồ hòn

                (Ghép tim)

Tuổi lú lẫn ngược nhằm ga trẻ dại
Hay ngây thơ
Không biết lối về già
Tha thẩn chữ ngã ba

                (Ke tuổi)

Rừng buồn bứt lá chim chim
Hỏi sim sim tím
hỏi bìm bim leo
Ước lòng chữ trắng nhẹ tênh cỏ lú
Chín kiếp chuyện đời ú ớ một tên em

                (Cỏ lú)

Trận dịch thơ trở thành một trận chiến truy lùng chữ nghĩa dở khóc dở cười, tôi không biết tác giả ở phương nào để hỏi ông bao nhiêu là câu hỏi, nhưng biết rõ cán cân đã hẳn nghiêng về đâu; cái gậy ảo thuật ngôn ngữ đã hất tung trái cầu dịch thuật: một bên là tự do vùng vẫy bên kia là hai tay bị trói hai lần cấm không được ra khỏi vòng chơi. Ba lần đưa bản dịch thử cho người bạn Đức, ba lần đều nghe trả lời “không hiểu”. Đến lần thứ tư, tôi đành nhắm mắt dịch liều, y như khi lái xe vào Paris, rơi nhằm Place de Concorde, có 16 con đường túa vào nhau nơi bồng binh, nếu đi theo luật và tinh thần phần phải về ta kiểu Đức thì sẽ đụng xe rầm rầm, cho nên muốn thoát thì đành phải nhắm mắt đạp ga theo cảm tính của luật chơi “người sao ta vậy”, có nghĩa, tôn trọng mạng sống là trước hết còn luật là chấp!

Chẳng đặng đừng phải chấp tất thôi, nếu “chữ chơi” thì “chơi” với chữ, mà trong luật “chơi” này trước hết, người chơi phải biết “chơi” thật; có nghĩa tự do, có nghĩa vứt hết mọi điều lệ ngôn ngữ, để nghiêm túc theo chính ngôn ngữ của người đang “ngôn” hay của chính “ngữ ngôn”. Ít nhất tôi đã đổi tư thế của mình - học theo Lê Đạt trong vô thức - nửa phút trước khi quyết định đầu hàng, gửi trả lại nguyên bản, bằng cách bỏ hết tâm trạng nghiêm trọng, tự ái, thả lỏng mình và liều mạng dịch tiếp. Thế mà được việc, kết quả người bạn Đức đã hiểu.

Có điều tôi chắc rằng, nếu bây giờ đọc lại bản dịch - điều mà đã 10 năm nay tôi không làm, thì có lẽ sẽ có… bản dịch khác, không phải đúng, chính xác hơn mà sảng khoái hơn…

Tôi không chắc nhà thơ Lê Đạt đồng ý với tôi, như ông đã từng không để ý đến những phiền toái ấy. Giờ đây chẳng còn dịp để bày tỏ điều này và còn những điều tha thẩn chữ ngã ba khác vẫn là nỗi băn khoăn không dứt của người dịch:

Ví dụ “cái ga xanh ấy sót lại” hay “xót lại”? - tôi đã nhận được hai bản khác nhau gửi đến, do đánh máy sai theo giọng Bắc nhầm “S” và “X”? Dạo ấy tôi hỏi các anh ở Paris bản nào và được xác nhận “sót lại” là đúng theo tác giả và theo bản dịch tiếng Pháp. Tôi cũng đã dịch “sót lại”. Nhưng nếu giờ đây dịch lại thì tôi sẽ dịch “xanh xót lại”:

Đời tốc hành một ga xanh SÓT lại
Một góc tuổi mải tầu thơ dại mãi
Tìm nhà
quên mất số lớn khôn


hay:

Đời tốc hành một ga xanh XÓT lại…

Cái ga xanh ở lại, xanh đến xót xa khi chuyến tốc hành đã vụt qua… Lê Đạt đã đi… đột ngột chuyến tốc hành!

Có phải tự do của tôi là “xót”, bây giờ xót xa, nhưng có một chữ “xót” không?

Hay “sót” và “xót” cũng chỉ là “bóng chữ”?

Nhà thơ sẽ mỉm cười…

Như đã mỉm cười khi gặp tôi ở Berlin (Chúng tôi ở hai chương trình khác nhau tuy trong cùng một tuần lễ văn hóa). Cuộc gặp đơn giản và tự nhiên, không khách sáo, không nồng nhiệt mà bình thường với những nụ cười của Lê Đạt, hiền hòa thấp thoáng trong sảnh đường. Vẻ người đôn hậu “nhà thơ không phải là nhà thơ” hơn dáng dấp ta thường chờ đợi nơi một nhà thơ mà cũng chẳng có chi ngạo nghễ tự hào của kẻ “dissident”. Chúng tôi không đả động gì đến thơ. Nhà thơ không hỏi về chuyện dịch thơ của mình (hiếm hoi lắm) và người dịch cũng không nhắc đến chuyện “toát mồ hôi”. Có lẽ một phần chuyến đi sang Đức đã quá bất ngờ cho một nhân vật của Nhân Văn Giai Phẩm.

Mà cũng có lẽ vì mọi sự bình thường, có gì đâu mà hỏi han!

Tôi mang theo nhiều ấn tượng về tuần lễ Việt Nam tại Berlin, trong đó ấn tượng về buổi gặp nhà thơ Lê Đạt, khá lạ lùng: cái cảm giác sống động được thấy bằng xương thịt một người, nhưng lại nhẹ tênh như sờ một cái “Bóng”. Quả tình Lê Đạt đã là cái bóng đứng đó với cô hướng dẫn viên Brigitte Kraffert, khi tôi thấy lần đầu, so với cường độ mãnh liệt của cuộc chiến với thơ Lê Đạt mà tôi trải qua trước đó.

Mà có lẽ chính vì cái bóng đơn sơ ấy mà có cuộc gặp lại lần hai chăng?

Lần này do tôi chủ động. Hóa ra thơ Lê Đạt đã nằm trong tiềm thức từ lúc nào. Một lần đến Hà Nội, tôi lang thang 36 phố phường. Qua hàng Đào, hàng Đường, đến Lương Văn Can, rồi tình cờ lớ quớ ở một góc đường lao xao những xanh đỏ tím vàng, những giấy là giấy; trùng điệp cửa hàng bán giấy vệ sinh, thùng giấy, xà phòng, khăn tắm… Ơ kìa chẳng là:

Đầu phố Lãn Ông có cửa hàng tạp vặt
Đăng ký số 4210
đứng tên Lê Đạt
Nhớ xưa ba mươi năm
Cửa hàng quan niêm phong
Bút độc quân ông Lành tẩy uế
Tuổi sạch phục hồi bán giấy vệ sinh.


Tôi bắt đầu từ hàng thứ nhất, hỏi một hồi thì tìm đúng cửa hàng Lê Đạt. Người nhà bảo ông đi dạo chưa về. Trở lại lần thứ hai, nhà thơ xuất hiện thật, sau những núi giấy vệ sinh: bỡ ngỡ nhận ra người khách bất ngờ: “Lan đấy hả?”, nỗi ngạc nhiên không quá một tích tắc là đã thấy nụ cười nhân hậu tiếp theo.

Những năm sau mỗi lần đến Hà Nội, tôi thường gặp nhà thơ với các bác các anh chị trong ban biên tập Tia Sáng cùng nhau đi ăn sáng hay ăn trưa. Buổi gặp thường ngắn ngủi, vừa đủ nghe một bản nhạc, trao đổi vài tin tức, vài đề tài, hớp vài ngụm nước trà, hay dừng nơi ly rượu vang. Lần cuối món cừu nướng nơi Viện Goethe, chuyện cũng vu vơ, nhẹ nhàng, chuyện chung chung giữa nhiều người. Nhưng có một lần, giữa câu chuyện chung với nhà báo Văn Thành, đột nhiên nhà thơ Lê Đạt quay sang nói với tôi, trong tư thế của một người đang tranh luận về một đề tài - một đề tài ghiền của tôi, mà nào có bao giờ trao đổi điều chi với nhau. Chứng tỏ nhà thơ đã chuyện trò “không lời” với tôi từ lâu, từ cuộc gặp này sang cuộc khác về cái đề tài ấy, bây giờ mới đi đến lời kết:

“Này, điều mà moi thích nhất trong đạo Phật, đó là tu cho được cái tâm bình thường!”, rồi tự gật đầu: “Chính cái tâm bình thường, thật bình thường, mới là điều đáng nói, hay lắm đấy!”

Tôi giật mình nhìn sang nhà thơ, thấy ông đang cười mỉm một mình, và giật mình thêm một lần nữa, bất ngờ nhận ra - chính cái người không bao giờ ngờ đến - chính người ấy lại chỉ cho tôi điều tinh yếu của đạo Phật, rõ nét hơn tất cả những người chuyên cần trong đạo Phật, những Thiền sư, những nhà tu, những Phật tử thông thuộc thiên kinh vạn quyển.

Giữa rừng hỗn mang từ nhà đến chợ, từ chợ đến trường, từ trường đến cấp cao và cấp cao hơn, trong một thời mà những chữ như “hoành tráng”, “làm giàu”, “đại gia”, “hoa hậu”, “anh hùng cứu nước”, “buôn bán nhà đất” hà rầm tràn lan khắp nơi, ai ai cũng tìm cái hơn cái nhất, cái phi thường, cái ưu tú lấn sâu đến tận nhà chùa, nhà thờ như một thứ bệnh thần kinh bên cạnh những thứ dịch cấp tính, thì giữ được cái “tâm bình thường” quả không dễ, lại cần thiết cho cuộc sống an lành đạo đức đến nhường nào.

Chính nhà thơ Lê Đạt đã trực nhận điều ấy bằng nhạy cảm của nhà thơ, và có lẽ suốt cuộc đời Lê Đạt đã “chơi thơ” một cách nghiêm túc trên cái nền Tâm ấy. Đổ hàng tạ mồ hôi bi kịch trên cái “bình thường” ấy để xây Thơ và nhân cách nhà thơ.

Thật sảng khoái để nhận ra: con người ấy trong tận cùng bản chất keo sơn vẫn giữ chất hiền triết Việt Nam, dù thấm đượm tây học.

Chỉ tiếc xót, có thể Lê Đạt sẽ cười và bảo “moi biết rồi”. Tôi chưa kịp thú nhận với chú Lê Đạt rằng, ấn tượng của tôi về “bóng chữ” không còn là ấn tượng về hình hài cá nhân, ngay cả cái bóng cũng là cá thể.

Lê Đạt với cái Tâm bình thường đã hòa nhập làm một, trở nên điều gì phổ quát, đại thể. Mỗi lần gặp, và cảm giác đó đã có thật trong những lần gặp, tôi có cảm giác như đang ngồi dưới mái hiên của ngôi đình rộng thoáng hay trên thềm ngôi chùa không tên, không cần bước vào trong, cũng không cần pho tượng, chỉ ngồi ở hiên mà thấm đượm phong cảnh, trời mây, cả nhân tình thế thái, hong nắng và gió hồn nhiên,… Có thể với ly rượu vang và nhiều hoa, có thể dốc ngược bình, dốc luôn cả bồ chữ văn chương mà vẫn bình an, hài hòa với nụ cười chơi với chữ. Bởi một điều:

Lê Đạt là nhà thơ của thế giới… bình thường, “ước lòng chữ trắng nhẹ tênh”.

...Nhẹ tênh không chữ, thơ Lê Đạt đang mang Lê Đạt rong chơi sáng tạo như tự bao giờ!

THÁI KIM LAN
(SDB9/6-13)

CHUYỆN TÌNH CỦA THI SĨ BÙI GIÁNG VÀ KỲ NỮ KIM CƯƠNG: LÃNG MẠN DỊ THƯỜNG


Nghệ sĩ ưu tú Kim Cương tên thật là Nguyễn Thị Kim Cương. Bà sinh năm 1937 tại Sài Gòn. Cha là ông bầu Nguyễn Ngọc Cương và mẹ là nghệ sĩ Bảy Nam. Từ khi còn bé, Kim Cương đã theo gánh hát đi lưu diễn khắp mọi miền đất nước. Bà bảo: "Tôi biết diễn trước khi biết nói. Lúc sinh ra mới có 10 ngày tuổi, tôi đã được quấn vô khăn lông ra sân khấu trong vai con của Quan Âm Thị Kính. Đạo cụ đầu tiên của tôi là một chai sữa mà hễ khóc thì nhét vô miệng liền…".
Với nghiệp diễn, nghệ sĩ Kim Cương đã để lại nhiều vai nổi tiếng như cô Diệu trong "Lá sầu riêng", Trà Hoa Nữ trong "Trà Hoa Nữ", Điêu Thuyền trong "Phụng Nghi Đình", Lý cổ cò trong "Nụ hôn đầu xuân", rồi "Dưới hai màu áo", "Sắc hoa màu nhớ", "Nhân danh công lý", "Nước mắt con tôi", "Tôi là mẹ"… Kim Cương còn là người tiên phong trong việc mở ra một hướng mới về hoạt động phim ảnh cho giới nghệ sĩ cải lương. Bà đã đề nghị và đóng liên tiếp 2 phim cổ tích "Quả dưa đỏ" và "Phạm Công - Cúc Hoa" với Hãng phim Việt Thanh (hãng phim hoạt động vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ trước). Sau đó Kim Cương còn tham gia đóng hơn 50 bộ phim nữa cho đến ngày miền Nam giải phóng.
Giã từ sân khấu từ hơn 10 năm qua và đã bước vào tuổi "cổ lai hy" nhưng bà rất ít có thời gian rảnh rang để nghỉ ngơi. Với cương vị là Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật TP Hồ Chí Minh, nàng "kỳ nữ" ngày nào giờ đây dồn hết sức mình cho công việc phúc lợi, tổ chức vận động quyên góp gây quỹ cứu trợ bão lụt, giúp đỡ người tàn tật, trẻ mồ côi. "Đời nghệ sĩ luôn chịu nhiều thiệt thòi, nhưng bù lại được khán giả, bạn bè, đồng nghiệp và xã hội trân trọng, yêu thương, đó là niềm hạnh phúc lớn lao. Còn gì hạnh phúc hơn khi mang niềm vui đến những mảnh đời bất hạnh" - Nghệ sĩ Kim Cương tâm sự.
Thành công trong cuộc đời nghệ thuật, nhưng nghệ sĩ Kim Cương lại gặp nhiều trắc trở trên đường tình duyên và khi lập gia đình cũng không được may mắn. "Tôi làm việc nhiều, đóng nhiều vai tuồng, vừa làm con, vừa làm chị, vừa làm trưởng đoàn, vừa làm nghệ sĩ, thậm chí vừa làm mẹ vừa làm cha nữa, nhưng làm vợ thì tôi không được làm". Bà đã cô đơn như thế nhiều năm qua. Giờ đây, khi người con trai duy nhất Trần Trọng Gia Vinh - cậu bé Toro bị bắt cóc năm nào - đã trưởng thành trong nghiệp kinh doanh, nghệ sĩ Kim Cương mới thật sự vui hưởng niềm hạnh phúc gia đình.
Đôi mắt nghệ sĩ Kim Cương chợt long lanh khi nghe hỏi mối quan hệ giữa bà và thi sĩ Bùi Giáng - người đã "ám" bà suốt 40 năm có lẻ… Bà xác nhận "chuyện tình" là sự thật chứ không phải tin đồn. "Chỉ có điều đó là mối tình đơn phương từ phía anh Bùi Giáng với tôi mà thôi. Bùi Giáng "yêu" nhiều mỹ nhân lắm, nhưng "chung thủy" nhất với tôi qua "mối tình sâu bọ" kéo dài hơn 40 năm. Sau này có lần tôi hỏi: "Vì sao mà anh thương Kim Cương dữ như vậy?", anh đáp: "Lúc gặp cô trong tiệc cưới, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang chiếu ra cho tới bây giờ". Đó là lúc tôi 19 tuổi" - Kim Cương bồi hồi nhớ lại.
Thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998) quả là nhân vật luôn khiến người ta kinh ngạc từ thi tứ, thi từ, lối sống, cho đến cách yêu. Tự nhận mình là tay "mê gái thượng thừa", những hình bóng mỹ nhân xuất hiện trong thi phẩm của Bùi Giáng suốt theo chiều lịch sử kim-cổ-đông-tây, từ Điêu Thuyền, Chiêu Quân, Thúy Kiều bạc mệnh cho đến Brigitte Bardot, Marilyn Monroe…; hay từ những khái niệm mơ màng như "cô em mọi nhỏ", "người em xứ Phi châu", "gái Cần Thơ, Sa Đéc"… đến những thực thể đương thời như Phùng Khánh, Trí Hải, Kim Cương… Nhưng cách "yêu" của Bùi Giáng không phải như người thường, bởi những người ông gọi là "em" hay "nương tử" dịu dàng cũng chính là những người mà ông trân trọng gọi là "mẫu thân" (mẹ).
Kim Cương trong một lần thăm thi sĩ Bùi Giáng.
Cuộc tình  Bùi Giáng với Kim Cương dằng dai suốt nửa cuối cuộc đời Bùi Giáng:
Kính thưa công chúa Kim Cương
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây
Tờ thư rất mực mỏng dày
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau?
Lý do dẫn đến mối tình si, ông đã tự bộc bạch:
Kể từ tao ngộ đầu tiên
Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng
Bốn mươi năm đã lẫy lừng
Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân
Trái tim thiết thạch vô ngần
Từ tam thu tới tử phần hôm nay.
Lúc ấy Kim Cương 19 tuổi đang rực rỡ trên sân khấu cải lương và Bùi Giáng là một nhà giáo, nhà thơ, dịch giả lịch thiệp chứ chưa trở thành "dị hợm" như sau này. Sau nhiều lần tiếp xúc, Kim Cương thấy ông giáo này có gì đó "không bình thường" nên cô sợ và từ chối lời cầu hôn của ông. Một hôm Bùi Giáng thở dài nói: "Chắc là cô không ưng tôi vì tôi già hơn, thôi để tôi gả thằng cháu tôi cho cô. Nó trẻ, đẹp trai, học giỏi". Thế rồi ông dắt cháu tới, ôi trời, đó là một đứa bé mới 7, 8 tuổi! Kim Cương hoảng vía và biết rằng điều bất ổn đã hiện diện trong tâm trí người đàn ông tài hoa này.
Ngoài những vần thơ mượt mà, Bùi thi sĩ còn dùng cách biểu đạt dị kỳ để thể hiện nỗi "ám ảnh dị thường" của hình bóng Kim Cương đang ngự trị trong tâm trí ông. Trong tập "Sa mạc phát tiết", bài "Cô Kim Cương ôi", Bùi Giáng đã viết thế này: "Nếu ngày sau tôi chết đi mà cô không thể nhỏ cho một giọt nước mắt, thì cô có thể nhỏ cho một giọt nước tiểu cũng được (Nhớ nhỏ ngay trên nấm mồ). Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận (Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây)". Rồi trong "Con đường ngã ba", Bùi Giáng lại nhắc "Cô Kim Cương hãy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Thiên tài buổi Hoàng Hôn thốt lên một lời như thế…". Quả là "lời đề nghị khiếm nhã" và lạ lùng ít thấy.
Bùi Giáng lang thang suốt ngày ngoài đường và địa chỉ ông thường đến - ngoài chùa chiền - là nhà của Kim Cương. Hễ không mở cửa là ông la hét, ném đá tưng bừng, riết rồi quen, không ai phiền trách gã "trung niên thi sĩ" kỳ dị ấy nữa. Và mỗi lần vào nhà Kim Cương là Bùi Giáng sáng tác thơ ào ạt để tặng, nguồn thơ yêu của ông không bao giờ cạn. Nghệ sĩ Kim Cương hiện đang trân trọng giữ gìn hàng chục cuốn sổ tay đầy ắp những vần thơ yêu của Bùi Giáng viết riêng tặng "nương tử Kim Cương".
Cả đời Bùi Giáng chỉ nhớ mỗi số điện thoại nhà Kim Cương, mỗi lần ông ra đường la hét làm kẹt xe bị cơ quan chức năng bắt, ông luôn chỉ nói một câu "Thân mẫu tôi là Kim Cương ở số…, điện thoại…", thế là Kim Cương phải đến bảo lãnh cho ông ra. Hoặc khi bị đánh, bị té phải vào bệnh viện, ông cũng chỉ "khai" như thế. Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Hình như kiếp trước tôi có nợ nần gì với ổng… Năm nào cũng vậy, sáng mùng một Tết là ổng đến xông đất. Ổng tuy điên, nhưng mà là cái điên của người trí thức, nói nhiều câu rất sâu sắc". Có lần Kim Cương tặng Bùi Giáng một cặp kính lão, nhưng sau đó ông bị người ta đánh vỡ mất một tròng kính. Kim Cương dỗ: "Để tôi mua kính mới cho anh nha". Ông lắc đầu: "Thôi khỏi, nhìn đời bằng một con mắt là đủ rồi". Hệt như câu thơ ông viết "Bây giờ riêng đối diện tôi/ Còn hai con mắt khóc người một con".
Những năm cuối đời, Bùi Giáng sống ở Gò Vấp với người cháu. Ai tới thăm ông cũng đuổi: "Đi ra hết! Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây". Một ngày tháng 8/1998, Bùi Giáng bị té nặng, chấn thương sợ não, Kim Cương là người đầu tiên được gia đình báo đến Bệnh viện Chợ Rẫy. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Kim Cương thấy Bùi Giáng sạch sẽ nhất, râu tóc cạo láng, quần áo phẳng phiu. Kim Cương cũng đồng ý cho phẫu thuật dẫu rằng hy vọng rất mong manh. Và rồi Bùi Giáng đã trút hơi thở cuối cùng. Khoảng nửa tháng trước đó, ông đã viết cho Kim Cương những vần thơ như một lời báo trước: "Ông đi đau xiết vui buồn/ Một mình ở lại muôn trùng em yêu". Rồi "Kiếp sau gặp lại, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương"…
Bên linh cữu Bùi Giáng trước khi hạ huyệt, Kim Cương thưa rằng: "Tôi xin cảm ơn anh ba điều: Một là cảm ơn anh đã để lại cho đời những tác phẩm văn chương độc đáo. Thứ hai là cảm ơn anh đã dành cho tôi một tình yêu suốt hơn 40 năm không suy suyển, không so đo tính toán. Thứ ba là cảm ơn anh đã cho tôi bài học rằng dù bất cứ ai dẫu điên hay tỉnh, giàu hay nghèo… đều phải có một mối tình để nương tựa".
ANH CƯƠNG
Nguồn: VNCA

NHÀ THƠ NGY DO THÁI: HẠT BỤI TRĂM NĂM ÔM ĐẤT QUẠNH


Tên thật: NGUYỄN HẢI THỆ
Sanh ngày 18.4.1940 ( Canh Thìn ), giờ Ngọ 12 giờ trưa
Quê quán Long Sơn, Tân Châu – Châu Đốc
Năm 1954-1961: học sinh trường Thủ Khoa Nghia-Châu Đốc
Năm 1961-1962: trường Sư Phạm Sài Gòn
Ngy Do Thái còn ký nhiều bút hiệu khác : Huyền Dân, Dân, Phương Mai, Nguyễn Thiếu Khanh, Nguyễn, Nguyễn Viên Phương…
Tác phẩm thơ, văn, kịch, kịch thơ… đăng trên nhiều báo chí Sài Gòn từ năm 1958-1975: Văn, Văn Nghệ Học Sinh, Bông Lúa, Thời Nay, Gió Mới, Văn Học, Đối Thoại, Khởi Hành… Các tỉnh như: Đất Mới, Tham Dự…

Ngy Do Thái (Nguyễn Hải Thệ)
“Bầy chim hồng hạc xưa bay mất/ Tiếng gáy còn đồng vọng núi xa/Về gì? Đâu chẳng chốn quê nhà/Nhật nguyệt đâu ghen người tóc bạc”. Lãng vãng đâu đây thần khí của bài Hoàng Hạc Lâu xa xưa, khiến tôi chất ngất trên hàng hàng lớp lớp những sợi tơ trời. Như vướng mắc thiên la địa võng trong hàng ngàn bài thơ Ngy Do Thái, giao truyền tận tay tôi vào một buổi chiều đầy phong vũ. Tôi mường tượng bóng dáng nhà thơ trong phong thái cẩn trọng lịch thiệp và đầy nét lãng du, được chất đầy trong bốn bản thảo nhờ lưu chuyển về thư trang Quang Hạnh. Thì ra, tận phương trời mây nước biên thùy quê xa, một lòng ký gởi những tâm huyết suốt hơn nửa thế kỷ thơ về nơi tri ngộ…
Thời gian bay nhảy trên mái tóc thanh tân đến ngày bàn hoàn bạch phát, quả thật nhìn đi nhìn lại chớp nhoáng như làn chớp mơ hồ giữa khoảng không. Tất cả qua đi không bao giờ trở lại, họa chăng chỉ còn vương vấn vài hình ảnh kỷ niệm xa mờ! Chính vậy, tôi ngơ ngác ngồi bên bốn tác phẩm thơ của Ngy Do Thái, một người mà suốt đời người có lúc sôi nổi trong dòng trào lưu tân hóa nghệ thuật của đầu thập niên 60, đến hiện tại quang quả bước lên cõi hư phù mà mở rộng tâm thức hạo nhiên với vũ trụ và  đạo vị .

Cách đây hơn 50 năm, ở một thời điểm miền Nam mở rộng cỗng nhà, để đón những làn gió sáng tạo của nền văn minh văn hóa khoa học bốn phương. Trong nước, tiếp nối phong trào tân hóa văn nghệ khai hoang từ thời tiền chiến, nay lại đón nhận những ý thức triết học tràn ngập, làm phong phú thêm tư tưởng sáng hóa nghệ thuật, giúp đầy đặn sáng tác đa dạng. Ngy Do Thái nằm trong lớp người say mê năng nổ và cật lực gom hết tinh hoa tri thức bước vào lãnh vực văn chương. Nhóm Thế Kỷ Mới thành lập khoảng thời gian 1959-1960, quy tụ những cây viết đầy uy lực gồm Ngy Do Thái , Mặc Lan Hoài, Song An Châu… thường xuyên xuất hiện trên các tạp san đương thời như Văn Nghệ Học Sinh, Bông Lúa, Gió Mới, Mã Thượng… Ngy Do Thái là cây viết đầu đàn, đa dạng…trải dài qua các báo Văn, Văn Học, Thời Nay, Đối Thoại, Khởi Hành…với thơ, văn, kịch, kịch thơ, từ những năm 1958 đến 1975.

Thời niên thiếu, khi còn ngồi trên ngôi trường trung học miền núi quê nhà, những mộng mơ tuổi thơ phải chăng là định nghiệp, khiến tôi cũng tập tành du hành vào những câu thơ tĩnh lặng cho riêng mình. Những tiếp cận si mê văn nghệ, giúp những người tương lân gần nhau và thân nhau một cách tình cờ. Thường xuyên hò hẹn những người làm thơ, trong những buổi trưa vắng lặng nhẹ nhàng trong công viên bên dòng sông Hậu, ở những năm tháng cuối thập niên 50. Quây quần giữa bạn bè thi phú, vạn hạnh nào hơn những thời khắc tương giao, ngoài những tài hoa đương thời trước mặt như Mặc Lan Hoài, Thương Hoài Diệp, Song An Châu, Hàn Thanh, Mai Thanh Tuyền, Nguyễn Huy Chương...mỗi người một khí phách riêng tư, sừng sững với tương lai hiện rõ trên khuôn mặt. Mặc Lan Hoài giới thiệu Ngy Do Thái… một nhân dáng độc đáo đa dạng trong sáng tác. Ngy Do Thái học trước tôi khoảng 1 năm, nhân dáng sĩ phu hiện rõ trên cung cách. Thật tình, sự ngưỡng mộ tài năng đã hiện hữu từ lâu trong tôi, vì khi tôi chỉ làm thơ thì giai đoạn nầy Ngy Do Thái hiện diện nhiều trên báo chí Đô Thành ngoài thơ còn truyện và kịch…Cái say mê tài năng vì sự đa dạng trong sáng tạo, khiến anh em nể nang và cùng tập tành viết lách, hy vọng cũng chan hòa trong đường nét đa dạng đó.

Bản tính khiêm cung, đầy tâm huyết giúp Ngy Do Thái viết nhanh, tác phẩm đầy đặn giá trị. Thời gian như gió thổi, tất cả đều trôi chảy xuôi theo dòng đời. Cái còn cái mất, cũng chỉ là phù du. Ngy Do Thái hầu như sáng tác rất nhiều trong suốt khoảng đường đời hơn 50 năm qua… Nhiều thi phẩm, kịch bản, truyện ngắn, ký, kịch thơ…những sáng tác đã đưa tên tuổi ông suốt quãng đường dài trôi nổi.Đáng tiếc, Ngy Do Thái làm thất lạc nhiều tác phẩm… điều mà khiến không biết bao nhiêu văn nghệ sĩ khổ sở trầm cảm canh cánh trong lòng suốt cuộc sống hóa sinh nầy.

Riêng tôi, khi được trao tặng và đang  lưu trữ cũng gần ngàn trang thơ , truyện và kịch của nhà văn nhà thơ Ngy Do Thái-Nguyễn Hải Thệ ( 4 thi phẩm/Phù Du-Thu Không-Cúc Trùng Dương-Ào Ảnh, 1 truyện/Trong Nắng Hạ Vàng, và 5 vở kịch/Chút Gì Trống Trong Kẽ Bàn Tay -Hư Tưởng Của Dòng Sống - Chiếc Lá Me Vàng - Tiếng Súng Trong Đêm - Chờ Sáng… ).

Tác phẩm của người làm văn nghệ bao giờ cũng lả những bảo vật sống, trôi nổi theo tác giả suốt quãng đời hư thực. Hình và bóng giao thoa không thể tách rời, đã là định luật bất biến trong cõi hư phù nầy. Chính vì Ngy Do Thái hầu như chỉ viết  tay những tác phẩm thành một bản chính thức lưu giữ, nên khi thất lạc bản thảo thì là điều tuyệt vọng vô cùng. Nên thỉnh thoảng khi có bằng hữu tâm giao ông mới sao y vài bản gởi tặng. (Phải chăng, muộn còn hơn không, nhờ vậy đến nay mới góp nhặt lại và giữ được những tác phẩm kể trên).

Sự bay nhảy ngạo nghễ trong thơ văn của thời trẻ tuổi , cũng không khác với những tư tưởng sáng tác của hầu hết thanh niên thời trước. Trong giai đoạn du nhập nhiều triết thuyết, nền văn minh văn hóa thế giới, và nhất là giai đoạn quê hương trong dầu sôi lửa bỏng… ảnh hưởng rất nhiều tới tư tưởng anh em văn nghệ. Chính vậy, khi Ngy Do Thái bước vào trường Sư Phạm Sài Gòn, ( 1961 ) hầu như tác phẩm cũng dằn dặt trong nỗi nhớ, lưu đày trong thân phận, tuổi trẻ, tình yêu, chiến tranh, bạn bè và sự trầm luân của con người…Sự xáo trộn trong tâm thức được hoạt biến mãnh liệt trên sáng tác. Nhưng những gì còn sót lại trong đời sống và lòng người, bất biến theo thời gian mới là giá trị chính thống của nghệ thuật. Nhiều lúc, đọc lại nhiều tác phẩm anh em, khi tỉnh thức hay đang nghiêng ngửa trong cơn say khướt, chợt ngâm nga vài câu thơ …hình như thấy không gian thời gian ngưng đọng lại. Thơ Ngy Do Thái cũng đầy chuyển biến trong cùng một dòng xoáy như vậy, bàng bạc trong tận cùng ngõ ngách cuộc đời, tình yêu, và thời thế .

Thời gian sau, bẳng đi gần mấy mươi năm gặp lại Ngy Do Thái nhẹ nhàng, khiêm dung , lãng du, hàm chứa phong thái đầy đạo vị. Một ấn tượng không nghi ngờ về chuyển biến tâm thức, vắng lặng, hạnh phúc, mà tương đồng đến nhật nguyệt đâu ghen người tóc bạc, bởi sự hoác ngộ như sấm sét đang nhoáng vào tâm linh, hóa thân trong một kỳ khu Nhất tức nhất thiết/Nhất thiết tức nhất , và bóng dáng thi nhân đang hiển hiện ngoài dòng chảy hư không như:

Lão hốt nhiên điếng lặng
Một niềm vui vô tận
Chảy tràn lan. Bao la

Thanh khiết. Như trăng ngà
Một dòng sông huyền bí
Đang trôi chảy. Trôi chảy
Tuôn miên man. Chan hòa
Tuôn không ngừng. Vào ta
Ta tan hòa. Rào rạt…

( Ánh trăng./ Thi tập Cúc Trùng Dương )

Thi phẩm Cúc Trùng Dương là điển hình ghi lại cái nhìn của nhà thơ trước cái hư không cuộc đời. Thơ ông như đang bước vào một quả vị trung đạo, vô tận vô biên vì không có gốc rễ đâu mà nương náo, vì chớp mắt vào đời chớp mắt ra đi, chân trời góc biển chẳng dựa vào đâu mà bền vững, chỉ tại nơi lòng mà thôi:

Thiên địa vô cùng
Trên đầu mảy lông
Nhật nguyệt trùng trùng
Trong lòng hạt bụi

( Người tới, ta về./ Thi tập Cúc Trùng Dương )

Suốt đời người trôi nổi qua hàng bao nhiêu ngày tháng nẩy hạt vươn chồi, trái ngọt bùi lẫn đắng cay mà sao con đường hướng tới vẫn phía trước? Ảo ảnh giăng mắc trùng điệp quanh không gian, thì sự tịnh tiến an lạc của chân tâm đã khiến Ngy Do Thái như muốn hoà nhập cùng thơ, muốn di chuyển linh hoạt như đi trên thập mục ngưu đồ:

Đuôi trâu biến mất. Mênh mông cõi ngoài
Mục đồng hôm trước qua đây
Bỏ quên ngọn sáo dưới cây bên đường

( Bóng thuyền quyên xưa/ Thi tập Cúc Trùng Dương )

Thoát khỏi bóng dáng đầy vướng mắc tục lụy ngày xưa, dòng thi ca Ngy Do Thái chuyển động thoát ra ngoài những mênh mông hư tưởng. Những bến bờ xa xôi vô tận giờ trả về ngàn phương với những cuồng nhiệt cháy lửa ngày nào của sắc không. Cái  ẩn hiện của đạo pháp xê dịch luân chuyển trong thi pháp, ẩn mặc trong những khuynh hướng như tiên tri trước cái hữu nhiên với vô hư. Khiến khách viễn phương nhiều lúc nhìn thấy nhà thơ như đang quẩy hồn thơ bước trên những sấm giảng lão đạo:

Hốt nhiên. Từ trời đất
Thênh thang cất tiếng cười
Tiếng cười màu tím ngát
Vụt nổ tung giữa đời
Trời mười phương rúng động
Bão tố dậy hắc phong
Tiếng sắt cầm lồng lộng
Núi cổ cháy bập bùng
Cồn đá xưa nát vụn
Muôn tinh cầu vỡ tung
Triệu vì sao xa rụng
Cơn hồng thủy mịt mùng
Đất cuồng quay đảo lộn
Cõi người biển xanh dâu
Bụi tiếng cười xô cuốn
Sập cầu ngang bạch hà
Biển sóng dâng muôn trượng
Đánh chìm dãy đảo xa.

( Ta nghe ta mịt mùng/ Thi tập Cúc Trùng Dương )

Luân hồi vẫn còn giăng mắc suốt kiếp số, nên định mệnh của thơ dù đang trên đường  thiền hành, nhưng vẫn loáng thoáng hạt bụi trăm năm ôm đất quạnh và thi nhân đang nhìn y bát mà gói lời kinh tụng thì coi như giấc chiêm bao thôi vậy…..


Viết tại Thư trang Quang Hạnh
Ngày Xuân phân, Quý Tỵ
NGÔ NGUYÊN NGHIỄM

TÁC PHẨM :
Ngy Do Thái Nguyễn Hải Thệ lưu trữ hơn ngàn bài thơ, được phân bố trong
4 tác phẩm đồ sộ:
   1/ Phù Du ( 2003 )
   2/ Ảo Ảnh ( 2004 )
   3/ Cúc Trùng Dương ( 2006 )
   4/ Thu Không ( 2009 )
Ngoài ra, những bản thảo đều viết tay mỗi tác phẩn chỉ lưu một bản duy nhất, nên trong thời gian khốn khó ở làng quê, những tác phẩm thơ – văn - kịch thơ - thoại kịch…của Ông đã thất lạc như:
   1/ Đêm Da Vàng ( tuổi trẻ, quê hương, chiến tranh )
   2/ Khuyết Nguyệt Động ( tình yêu, bạn bè )
   3/ Buồn Phố Nhỏ ( thân phận, kiếp người )
   4/ Chiếc Lá Me Vàng ( truyện, kịch, đối thoại )
Những tác phẩm thất lạc nầy, nhiều bài đăng tải trên các báo và tạp chí xưa.