.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Monday, January 30, 2012

TẠ DUY ANH – MỐI TÌNH ĐẦU VĂN CHƯƠNG CỦA TÔI


Sang năm học thứ ba của một lớp trung cấp kỹ thuật nhưng chúng tôi vẫn chưa biết chuyên môn của mình là gì. Vẫn chủ yếu là học để lấp chỗ trống về thời gian. Những ông thầy dạy chúng tôi giống như đi đánh quả. Mà họ đánh quả thật. Một ông thầy như vậy đã lừa tôi để lấy cái ô phiếu vải 5 mét, bằng một miếng vải chỉ đáng làm giẻ lau. Giá như thầy biết cuộc đời còn dài và khó mà không gặp lại nhau, có lẽ thầy đã chẳng làm thế. Tất cả những người rắp tâm lừa đảo đều không bao giờ nghĩ xa quá một ngày. Nhưng tôi đã tha thứ ngay cho thầy khi biết mình bị lừa.
Vì chỉ lêu têu chơi nên chúng tôi làm đủ thứ việc vớ vẩn. Vài đứa bị đuổi học do ăn cắp và bắn súng trong khi gác đêm. Nhiều đứa khác đi lừa đảo những cô gái lỡ thì ở các lớp khác, lôi lên đồi làm tình sau khi bí mật bố trí cho cả bọn xem, rồi đá ngay sau đó.
 Chả đứa nào còn nuôi hy vọng đi Tây, chỉ mong sao nhanh ra trường để khỏi phải đói dài. Cuối cùng, có lẽ sợ chúng tôi phá quấy và thời gian học cũng đã hết, nhà trường quyết định cho chúng tôi lên công trường thực tập. Chúng tôi đều rất háo hức. Chưa biết tốt xấu thế nào nhưng ít ra thì cũng đổi không khí. Cụ Thứ được cử đi theo để trông nom. Với ngần ấy suất ăn, chúng tôi phải có nghĩa vụ nuôi một con lợn giúp nhà trường. Những đứa có gia đình ở thị xã hay ở công trường thì được về nhà, còn lại khoảng hơn ba mươi đứa chúng tôi bị tống vào ở tại khu nhà của thợ đóng gạch đã bỏ hoang khá lâu, giữa một bãi cát.
Ngôi nhà cấp bốn, xây bằng gạch non, lợp ngói proximang, nền nhà loang lổ những đống than củi. Chắc là vết tích những bếp nấu ăn của thợ đóng gạch. Tất cả các bức tường đều thủng lỗ trỗ, nhiều vết bằng cái chiếu một. Có cả thảy sáu gian, ngăn đôi cũng bằng bức tường thủng. Nữ một bên, nam một bên. Cứ tối đến là phần lớn bọn con trai đi tìm trò tiêu khiển giết thời gian. Đứa thì đi tìm gái điếm, đứa thì đi tán tỉnh các em bên thị xã, đứa thì đi chơi bạc...
Sau bữa cơm chiều ăn quếnh quáng, hầu như lúc nào cũng chỉ còn cụ Thứ và tôi ở nhà gác miếu. Cụ Thứ nằm trên tấm phản có kê gạch, cạnh những bao gạo, phía bên ngoài ngay sát vách là con lợn. Tuy không rời vị trí nhưng bọn con trai vẫn có cách để qua mắt cụ Thứ, xúc trộm gạo đem đi bán, khiến cụ rất bực tức nhưng đành chịu. Thỉnh thoảng cụ chỉ biết ca thán với tôi. Mấy hôm đầu tôi ngồi nghe. Về sau tôi không để tâm nên cụ thôi không kể nữa.
Bỗng dưng tôi muốn viết một cái gì đó. Ý nghĩ này đến bất ngờ nhưng nóng bỏng. Thế là đầu óc tôi cứ luẩn quẩn về điều đó khiến tôi mất hết tập trung cho việc khác. Tôi đi đi lại lại, hết nhìn ra bãi cát lại nhìn cụ Thứ ngồi nhổ râu bên đống gạo to lù lù. Có lúc tôi cảm thấy rõ một sự bức bối nhưng không thể gọi tên nó là cái gì. Nó giống như con chim tức cổ muốn gáy nhưng cứ vướng cái gì đó chưa thể bật tiếng được. Bao nhiêu nỗi buồn đau tích tụ, nay tôi muốn trút vào chữ nghĩa. Hình như chỉ có chữ nghĩa là chứa được những tâm sự của tôi.
Cuối cùng, bỗng vào một buổi tối trời rét, dưới ngọn đèn dầu ma-zút tù mù, đen kịt khói, với chiếc hòm mìn kê làm bàn, tôi đặt bút viết những chữ đầu tiên trong cuộc đời sáng tác của mình. Tôi đã từng nói ở đâu đó tôi viết truyện từ năm học lớp tám, khi làm một bài văn có cái đề mở hiếm hoi hồi ấy: "Kể về một kỷ niệm đáng nhớ trong đời mình". Tôi đã bịa ra chuyện tôi bị bom Mỹ vùi và một đứa con gái mà tôi vẫn coi thường, đã bới đất cứu tôi khiến tôi vô cùng ân hận vì đã nghĩ sai về nó. Bài văn đó của tôi được cô cho điểm 7, điểm cao nhất lớp lần ấy và là điểm văn cao nhất trong suốt những năm học cấp ba của tôi. Cho dù nó có dáng dấp một truyện ngắn nhưng đó cũng chỉ là bài văn, tôi làm do tình thế bắt buộc. Còn lần này tôi hoàn toàn ý thức mình viết truyện, tức là bịa ra một câu chuyện y như thật.
Muốn vậy thì từ nhân vật, không gian, thời gian, diễn biến những vụ việc đều phải do mình tưởng tượng. Đầu tiên là nhân vật. Mình phải hình dung ra họ, rồi gán cho nó những đường nét về hình thức, những hành động mà nó sẽ thể hiện. Lần đầu tiên tôi thấy mình có khả năng tạo ra trong đầu bất cứ thứ gì mình muốn mà không mấy khó khăn. Thích nhất là nhân vật thế nào, nói năng, đi lại ra sao, đẹp hay xấu... đều do mình quyết định.
Truyện ngắn đầu tiên của tôi hình thành như vậy. Nội dung kể về một anh công nhân lái máy xúc có tài, có đức nhưng chuyên bị ông đội trưởng tên là Thuyết trù úm, do ông này có thói quen thích được nghe nịnh, mà anh công nhân kia thì không bao giờ nịnh ai. Anh công nhân kia liên tục bị hại, kể cả bị bỏ đinh vào trong chiếc máy mà anh ta xung phong sửa chữa, khiến chiếc máy bị hỏng nặng thêm và vì thế mà người ta quy cho anh tội phá bĩnh. Anh bị kỷ luật, chỉ cho làm những công việc vớ vẩn như quét dọn, lau máy... trong khi xí nghiệp lại rất thiếu những thợ máy giỏi. Cuối cùng có nhân vật tôi là kỹ sư, tên Thắng (hàm ý sự chiến thắng của lẽ phải), là người mới đến nhận công tác, vượt qua được mọi định kiến và vì thế mà được anh công nhân lái máy chia sẻ.
Nhân vật tôi hiểu ra bản chất thật của từng con người, bèn đưa vụ việc lên giám đốc. Giám đốc vốn cả tin cấp dưới, hơi quan liêu, nghe một chiều nên cũng nghĩ oan về anh lái máy xúc. Nhưng vì bản chất ông là người tốt (lãnh đạo luôn phải là người tốt, người sáng tác phải chấp nhận nguyên tắc đó) nên khi nghe thủng câu chuyện thì nhanh chóng đứng về phía lẽ phải. Tôi kết thúc truyện bằng cách để cho nhân vật lái máy xúc được minh oan, được tiếp tục công việc của mình cho đến khi chiếc máy xúc hỏng nhiều năm nổ máy giòn rã trong tiếng vỗ tay của hàng trăm người.
Tôi viết một cách mê mải, theo mạch chuyện mà mình bịa ra, trên loại giấy xé từ sổ ghi nhật ký công trường, nét chữ nhỏ li ti để tiết kiệm. Tôi viết lần thứ nhất, coi như bản nháp. Sang lần thứ hai trôi chảy và... hoàn chỉnh hơn hẳn. Chính tôi cũng không ngờ là tại sao bỗng dưng mình lại bịa được một câu chuyện có đầu có cuối như vậy. Nhiều từ, nhiều thuật ngữ chuyên môn liên quan đến máy móc, đến miêu tả tình cảm, mô tả công việc... hàng ngày tôi ít nghĩ đến, thậm chí có nặn óc cũng không tìm thấy, vậy mà khi viết cứ tuồn tuột ở đâu tuôn ra, không sao hãm được. Chỉ có thể dùng từ ào ạt mới diễn tả được chút ít. Những trang giấy kín đặc chữ, thứ chữ nghiêng đều, không hề có chữ nào bị gạch xoá. Bởi vì ngay cả khi viết gần hết trang mà có chữ nào bị xoá, lập tức tôi bỏ đi bằng cách chép lại từ đầu. Thói quen và có lẽ cũng là "tính xấu" này tôi duy trì cho đến năm 2004, trước khi chuyển sang dùng máy tính.
Đến đêm thứ mấy tôi không nhớ, sau khi hạ câu kết và thấy hài lòng, tôi viết ngay cái tên Tạ Duy Anh xuống bên dưới mà không hề có tí ti chủ định trước mình sẽ mang một cái bút danh như vậy. Nghĩa là cách đó vài giây tôi chưa hề nghĩ đến cái tên đó. Tôi là Tạ Viết Đãng, sau đó cô giáo Hương sửa thành Tạ Duy Đãng như tôi đã kể. Nhưng chính vì cái chữ DUY đó mà tôi khốn khổ với đủ các loại giấy tờ nên quyết định dùng lại tên bố mẹ đặt cho. Bố tôi không coi trọng hình thức, cực kỳ đơn giản hoá mọi thứ, kể cả những thứ linh thiêng - hậu quả của tinh thần duy vật tuyệt đối - nên đặt tên con vô cùng tuỳ tiện (Mới đây, tình cờ đọc cuốn sách của Phùng Hữu Lan, tôi phát hiện ra nghĩa của từ "đãng" là trừ hại, một phát hiện tình cờ nhưng khiến tôi thích thú và càng tin vào định mệnh!). Tên chị gái tôi còn khó gọi hơn và khiến tuổi thơ của chị đẫm nước mắt. Tuy không khó lắm nhưng hầu như không mấy ai lần đầu gọi đúng tên tôi. Hoặc là Đăng, hoặc là Dũng chứ không mấy khi là Đãng. Điều đó sau này làm nên một tấn bi hài kịch văn chương khiến tôi suýt tàn đời mà tôi sẽ kể sau.
Trở lại với cái tên Tạ Duy Anh. Chính tôi cũng bất ngờ với bút danh từ trời rơi xuống ấy. Bình thường khi nhà văn dùng bút danh, họ sẽ chiết tự để nó có nghĩa bóng, nghĩa ẩn nào đó. Có người ghép hai địa danh gắn với đời họ, với kỷ niệm của họ. Có người lấy tên con, tên người tình đầu tiên, tên quê hương hoặc tên loài cây nào đó... Riêng tôi, cái tên Tạ Duy Anh không được cấu tạo từ bất cứ chủ ý nào. Nó như câu cuối cùng của truyện mà phải viết nốt mới xong. Sau này có người cứ hỏi về ý nghĩa của nó, tôi trả lời cho xong là "Duy chỉ có mình anh". Nhiều người tin như vậy, tức là họ tin tôi đặt bút danh với hàm ý ấy, tôi cũng không thanh minh. Nhưng sự thật thì hoàn toàn không phải như vậy. Trời đã tặng tôi cái tên đó mà không kèm theo bất cứ điều kiện nào, không giải nghĩa cho tôi biết.
Đọc lại vài lần, ngắm nghía cái tên kỳ lạ do chính mình viết xuống bên dưới, tôi như sống ở thế giới khác. Nó có vẻ cũng hợp lý về âm và tự dạng. Tuy thế, tôi cứ hay cười một mình, tâm trạng vô cùng phấn khích. Sau đó tôi xin giấy bìa về, tự tạo một chiếc phong bì to, rồi nhét bản thảo độc bản vào (ngày đó chưa có photocopy mà tôi thì viết tay), đề gửi cho báo Lao Động, 51, Hàng Bồ, Hà Nội. Ngay cả việc tôi chọn báo Lao Động cũng như có ai xui. Bởi đó là lựa chọn mang tính số phận và vô cùng chính xác, như sau này tôi nghiệm thấy. Xong, tôi mang ra bưu điện ở phố Đúng, đưa thẳng cho chị nhân viên mà không nhét vào thùng thư. Chị nhân viên, sau này thành quen, lật ngược lật xuôi, thấy ghi gửi báo thì cảnh giác hỏi: "Viết gì thế?". Tôi đáp nhỏ: "Em viết truyện". Chị bưu điện nhìn tôi như xem tôi là ai mà dám viết truyện. Rồi chị bảo tôi ghi ở góc phải, phía trên phong bì hàng chữ: "Bài gửi đăng báo" để không phải dán tem.
Khi chị nhân viên đóng cái dấu vào phong bì, tôi thấy tim mình đập rộn ràng. Cứ y như tôi sắp được cấp vé để lên một con tàu số phận du hành sang một cuộc đời khác. Hoặc cũng có thể chị ta thay mặt thần số phận đóng dấu vào cuộc đời mình. Tôi tần ngần đứng nhìn chị một lát rồi quả quyết quay ra.
Tôi đi thẳng về nhà, chui vào chăn vì sợ mình đổi ý không gửi nữa. Đó là tháng 12-1980, trời đang là mùa đông và tôi vừa sinh nhật lần thứ hai mốt! Tôi nằm và nghĩ miên man, càng nghĩ càng cảm thấy mình vừa làm một việc quá liều. Rồi thì người ta cười cho thối mũi ra. Sao tôi lại hấp tấp gửi ngay mà không cân nhắc thêm. Giờ thì mọi chuyện đã muộn. Tất nhiên tôi sẽ giữ bí mật, nên mọi việc chỉ mình tôi biết. Dù thế tôi cứ thấy một nỗi xấu hổ ngấm ngầm. Nhất định ở tòa soạn báo người ta sẽ lôi truyện của tôi ra rồi đọc cho nhau nghe và cười ầm lên. Lại còn cũng bút danh bút diếc, lố lăng quá. Rồi người ta cho vào đống giấy lộn, chờ đem bán cân. Như thế cũng đáng. Tôi chỉ muốn chuyến thư đó bị trục trặc gì đó và chiếc phong bì của tôi không bao giờ đến địa chỉ tôi gửi. Hoặc nếu đến rồi thì vì hỏa hoạn hay gì đó nó bị cháy thành than trước khi có ai đó giở ra.
Tuy rất bi quan như vậy nhưng có điều gì đó không thể cưỡng được cứ khiến có lúc lòng tôi tràn ngập niềm hy vọng. Hy vọng rồi thất vọng, lại hy vọng... cứ vậy tôi sống trong tâm trạng vô cùng bất an, có lúc hoảng loạn. Chẳng hạn như trưa hôm đó, tôi thấy có một chiếc xe con cứ nhằm vào chỗ tôi ở mà tiến. Tim tôi bỗng dội lên khi nghĩ, rất có thể tòa soạn cử người về gặp tôi để xác minh (hoặc đón đi!). Ý nghĩ đó hóa ra có sức đeo bám rất dai dẳng. Nó vừa khiến tôi sợ, vừa hướng tôi đến một tương lai đầy ánh sáng! Cái viễn cảnh mình là nhà văn có sức hấp dẫn vô cùng ma mị với tôi cho dù suốt hồi bé tôi không thích nghề văn vì thấy nó vô dụng. Và tôi âm thầm chờ tới ngày đó, kể cả khi bản thảo cứ biệt vô âm tín. Tức là ra đi không để lại tăm dạng. Nếu bình thường thể nào tòa soạn cũng phải hồi âm cho tôi. Đằng này không có lấy một dòng. Nhưng có lúc tôi lại nghĩ, khéo mà mọi lo lắng của mình chỉ là hão huyền vì chẳng có ma nào sờ đến cái phong bì đầy dấu ấn công trường ấy. Cả nước có hơn chục tờ báo, trong khi tới hàng ngàn hàng vạn người viết, phải xếp hàng nhiều năm mới đến lượt, họ cần gì phải đăng truyện của kẻ viết còn sai chính tả như tôi. Đầu óc tôi có lúc như đặc lại một màu đen tối. Rồi tôi lại thấy nó bừng lên thứ ánh sáng hy vọng vô cùng ngoan cố.
Trong khi phấp phỏng chờ đợi trong bí mật điều kỳ diệu xảy ra, tôi vẫn tiếp tục với công việc thực tập vô cùng buồn tẻ. Ngày ngày chúng tôi chia thành nhóm, đi theo một chị công nhân trưởng thành từ thuỷ điện Thác Bà, góa chồng từ trẻ nên cực kỳ khó tính, đến những nơi người ta làm đường, làm nhà... để lấy mẫu vật liệu. Lúc thì là bê tông, thử độ sụt, lúc là xi măng để làm thí nghiệm chảy dẻo. Có hôm chúng tôi lấy mẫu nhựa đường về, đun lên rồi thử độ cứng. Mùi nhựa đường khét lẹt khiến tôi thấy ớn vô cùng.
Tôi sẽ gắn bó cả đời với thứ công việc đó ư? Chỉ nghĩ thế đã thấy chân tay không buồn cựa quậy. Bao nhiêu ước mơ của tôi, cộng với ước mơ của bố tôi, ước mơ của cả dòng họ âm thầm gửi vào tôi, cuối cùng chỉ thế này sao? Tôi sẽ là cán bộ bằng cách đó sao? Thực tế đến tận lúc ấy tôi vẫn chưa biết rồi thì mình có thể tự tin làm việc gì nhất. Những ngày thực tập mệt mỏi, tẻ nhạt, đầy thất vọng khiến tôi càng chán nản khi nghĩ mình chẳng làm được việc gì ra hồn. Tương lai hoàn toàn mù mịt, mặc cho người ta ra rả tuyên truyền về biểu tượng rực sáng của công trường. Tôi chỉ còn trông đợi vào sự kỳ diệu là một hôm nào đó truyện ngắn của tôi được đăng! Chỉ điều đó may ra cho tôi nghị lực sống, xóa tan mọi u ám. Tôi sẽ sống vì điều đó và cho dù gian khổ bao nhiêu tôi cũng chịu được.
Nhưng mọi thứ vẫn vô tăm tích.
Chúng tôi được nghỉ tết. Đó là cái tết đầu tiên tôi về nhà.
Những tết trước tôi đều về Hải Phòng vì việc tôi ở Hòa Bình, trong làng không ai biết. Họ vẫn đinh ninh tôi ở Lâm Đồng, làm trong ngành công an vũ trang với nhiệm vụ tiễu trừ Fulro. Khi tôi lù lù xuất hiện và cưới vợ, bố giải thích là tôi được chuyển ra Hòa Bình. Vì thế, sau bao nhiêu năm "trong bóng tối", nay tôi được phép "ra công khai". Đó là một cái tết vô cùng buồn tẻ với cả nhà tôi. Sau vài hôm thì tôi trở lại Hòa Bình, gặp bạn bè, thấy vui lên chút ít mặc dù ý nghĩ u ám về gia đình luôn bám theo.
Tôi nhớ hôm đó chúng tôi lên cơ quan mà mình về thực tập, cũng là nơi sẽ ở lại làm việc sau khi chính thức tốt nghiệp, để gặp mặt đầu xuân. Đang ngồi chen chúc nhau nghe ông giám đốc nói những lời chúc tết có cánh, tôi bỗng thấy chị Hương, quê Nghệ Tĩnh, cứ chăm chú dán mắt vào đọc tờ báo Lao Động. Tôi liếc nhanh vào thì thấy cái dòng tít: Để hiểu một con người, bên dưới ghi hai chữ truyện ngắn. Không phải là tên truyện của tôi. Truyện của tôi có cái tựa đề Những tâm sự thầm kín. Biết rõ là thế nhưng không hiểu sao tim tôi đập loạn lên. Tôi linh cảm cái tên có vẻ rất gắn với nội dung truyện tôi viết. Nhưng vì xa quá nên tôi không đọc được dòng đầu tiên. Bỗng chị Hương giở sang trang bên để đọc hết truyện. Trời ơi, cái gì kia, liệu tôi có hoa mắt hay đang mơ không? Bởi vì tên tác giả bên dưới là Tạ Duy Anh. Tôi phải ngồi ngay trở lại để đỡ ngực kẻo tim vọt ra mất. Có lẽ do quá mong đợi mà tôi nhìn ra cái tên ấy. Sự thật thì từ khá lâu rồi tôi đã không còn dám nghĩ tới truyện của mình được đăng. Tôi hoàn toàn tin rằng nó là thứ vớ vẩn, chỉ đáng ném đi. Rồi không khí những ngày tết khiến tôi quên khuấy mất. Chả nhẽ những gì tôi mơ ước đang là sự thật ngay trong tầm tay? Không, nó quá lớn, lớn đến mức tôi không tin.
Tôi vẫn không đủ tự tin để lại gần chỗ chị Hương, hoặc xin chị cho ngó qua. Chờ cho chị Hương và vài người khác chuyền tay nhau đọc tờ báo chán chê, khi có vẻ mọi người không quan tâm nữa, tôi mới nhờ ai đó lấy giúp tờ báo. Mặt tôi tái đi, tay run lập cập. Những dòng nội dung do tôi viết ngày nào, đang hiện lên trước mắt tôi đây, nhưng bằng thứ chữ in ngay ngắn, rõ ràng, trăm ngàn chữ như một, không thể lẫn đi đâu được. Đoạn đầu và đoạn cuối truyện bị cắt, nhưng còn đủ dài để chiếm trọn hai trang. Tôi đọc lần một, lần hai, lần ba, lần thứ bao nhiêu không nhớ chỉ trong vòng mấy chục phút. Tôi thuộc lòng từ khi viết nhưng giờ đọc lại sao thấy nó vẫn mới mẻ, lạ lẫm, bất ngờ đến thế. Thấy nó hay hơn hẳn khi đọc bản thảo! Không thể tin rằng tôi lại có thể bịa ra cả một câu chuyện như thật, có tên nhân vật, có mâu thuẫn, thắt nút, cởi nút... để cuối cùng hoàn chỉnh thành một tác phẩm văn học.
Không có gì sướng hơn đọc văn của mình. Lúc ấy tôi chưa biết đến câu "Văn mình, vợ người". Đọc văn của mình thấy nó trôi chảy, sâu xa, và rất... vào! Nó là hay nhất, khỏi phải nói. Hàng tiếng sau tôi mới tạm lắng xuống cơn sung sướng để nhìn cái hình minh họa vẽ một anh công nhân đội mũ, trong khoảng sáng tối với vẻ mặt đăm chiêu nhưng cương nghị, nhìn là thấy ngay ra người tốt. Bên dưới chú thích là minh họa của Văn Cao. Lúc ấy tôi chưa đủ hiểu biết để có thể thấy đó là vinh dự to lớn của đời mình: Tác phẩm đầu tay in báo được Văn Cao minh họa. Tôi chỉ thấy điều đó có vẻ hay hay, thú vị.
Thú vị nhất là những gì mình viết ra, hoàn toàn do bịa, lại được hàng chục người sắp chữ, được Văn Cao dựa theo để minh hạo rồi in ra hàng vạn bản, chuyển đi khắp cả nước cho mọi người đọc. Hẳn những người đọc sẽ hỏi cái anh chàng Hùng Bĩnh này là ai, ông Thuyết là ai, nhân vật Thắng, là ai và cuối cùng ông tác giả Tạ Duy Anh là ai? Không gì dễ chịu hơn cái hình dung ấy! Tôi mỉm cười thích thú bởi tất cả đều do tôi... bịa ra.
Tôi xin tờ báo đem về nhà. Tôi không nói với ai đó là truyện ngắn của tôi. Chưa thể nói được bởi khó mà diễn đạt bất cứ điều gì một cách bình thường. Những người có máu ghen tị sẽ phao lên là nhờ tòa soạn viết lại mới được như vậy, như sau này tôi đã nghe thấy. Nhưng lý do chính là do tâm hồn tôi mở toang, phơi phới, không thể yên tĩnh ngay được để không nghẹn ngào khi nói. Những bước chân của tôi nhẹ bẫng.
Tôi không còn thấy bất cứ điều gì có thể gọi là nỗi khổ được nữa. Cuộc đời, dù thế nào cũng thật là tươi đẹp! Tất cả chỉ còn lại niềm vui bất tận. Những năm tháng đói khát, những ngày ăn khoai ăn sắn, ăn hạt bo bo đến thủng cả ruột, áo không đủ ấm, rồi bệnh tật, oan ức, thù hận, bị ép duyên... tất cả chẳng đáng là gì trước niềm vui bất tận đang tràn ngập trong tâm hồn tôi.

Tôi ghi nhớ vĩnh viễn số báo đó là số 3, ra ngày 15-01-1981.
 
TẠ DUY ANH
Nguồn tin: TCNV 01-2012

ĐẦU XUÂN 2012, TS CHU HẢO BỖNG DƯNG “ĐỔ ĐỐN” LÀM THƠ


Nhà thơ Bùi Hoàng Tám

Trời ơi bác Hảo làm thơ
Sông Hồng lở cả hai bờ từ nay
Kẻ gian áp bức người ngay
Nước non đã đến nước này rồi ư?
Giáo sư ngồi khóc thái sư
Khóc rồng, khóc rắn mà như khóc mình.

Đầu xuân 2012, Tiến sĩ Chu Hảo bỗng dưng “đổ đốn” làm thơ. Khi nhà khoa học cầm bút làm thơ là lúc Sông Hồng không còn bên lở, bên bồi mà.. lở cả hai bờ! Bài thơ của một vị Giáo sư viết về thân phận một vị Thái sư cách mình 1000 năm đầy ai oán. Cảm tác trước hình ảnh này,  xin tặng Giáo sư Chu Hảo, một trí thức mà tôi hằng quý trọng bài thơ viết vào chiều 30 tết năm Tân Mão.
Dưới đây là bài thơ của TS Chu Hảo đăng trên Nguyễn Xuân Diện.

Rồng đá
ở đền Lê Văn Thịnh [1]

Chu Hảo

Tai nghễnh ngãng không nghe kẻ sỹ
Mắt mù mờ không thấy hiền tài
Phũ phàng đầy đọa người trái ý
Ngàn năm còn mãi nỗi oan sai
Giận dữ ai nổi cơn thịnh nộ
Cắn xé thân mình răn đe ai
U mê mãi rồi cũng sám hối
Nguyên khí đâu mở lối Rồng bay

 [1] Lê Văn Thịnh, người Kinh Bắc, đỗ thủ khoa trong kỳ thi Nho học Tam trường đầu tiên ở Việt Nam do Vua Lý Nhân Tông tổ chức vào năm 1075. Ông làm quan trong triều đến chức Thị Lang Bộ Binh, có công lớn trong việc bàn nghị phân chia cương vực với Triều đình Nhà Tống để giành lại 6 huyện biên giới ( nay thuộc Cao Bằng ).Theo Đại Việt sử ký ( thời Nhà Trần ) và Đại Việt sử ký toàn thư ( thời Hậu Lê ) thì ông là một nghịch thần, có phép " hóa hổ" để mưu sát vua trên hồ Dâm Đàm ( Hồ Tây ngày nay ). Sau này có nhiều ý kiến cho rằng đó là một vụ án oan sai : Vua đã nghe lời xúc xiểm của bọn gian thần ghen tức với tài năng và đức độ của Lê Văn Thịnh mà đày đọa ông - một hiền tài. Ông đã bị Vua đầy lên miền sơn cước thượng lưu sông Hồng và chết trong quên lãng... 


Đây mãi vẫn là một nghi án, nhưng dân gian đời sau đã xây đền thờ Lê Văn Thịnh ngay trên nền ngôi nhà nơi Ông sinh ra ở núi Thiên Thai ( Bảo Tháp, Đông Cứu, Thuận Thành, Bắc Ninh) như để giải thoát cho nỗi oan khuất của Ông. Khoảng đầu những năm 90 TK trước, tình cờ người trông nom đền phát hiện ra một pho tượng Rồng đá cao khoang 0,8m, dài khoảng 1m. Đây thực sự là một tuyệt tác nghệ thuật: người nghệ sỹ khuyết danh ( có lẽ ở thời Hậu Lê ) đã khắc họa hình ảnh con Rồng " miệng cắn thân, chân xé mình " hết sức sinh động để người xem phải sửng sốt cảm nhận nỗi ân hận đắng cay của bạo chúa đã gây ra oan nghiệt. 

Rồng bạo chúa đã được người nghệ sỹ tài ba đặc tả với một bên tai không có lỗ.Cũng có ý kiến cho rằng Rồng đá này là biểu tượng của chính Lê Văn Thịnh. 

Chỗ hiểu khác nhau này xin dành cho bạn đọc lựa chọn theo cảm nhận của riêng mình.

BỐ ƠI, THẾ NGÀY XƯA BÁC HỒ ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC LÀ ĐI ĐÂU HẢ BỐ? BÁC ĐI XIN TÀI TRỢ Ạ?


Sở dĩ tôi giật một cái tít như thế này là bởi muốn pà con cùng nghe một câu chuyện: Số là tôi có một đứa cháu gái, học lớp 11 trường Việt Đức. Trong một bữa cơm gia đình, vừa ăn vừa xem ti vi (thói quen người Việt mà), cái ti vi đang nói về một trong số những cuộc thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhân đấy có nhắc đến bài thơ Người đi tìm hình của nước của nhà thơ Chế Lan Viên, con bé chợt hỏi bố nó:

- Bố ơi, thế hồi xưa bác Hồ đi tìm đường cứu nước là đi đâu hả bố? Bác đi xin tài trợ ạ?
Bố nó suýt nữa thì ngã ngửa. Cô nó hỏi:
- Thế lúc con học bài thơ của Chế Lan Viên thì cô giáo dạy văn của con nói thế nào?
- Con chả nhớ. Nhớ làm sao được ạ.
Tất cả người lớn trong nhà đều cười rất méo mó trước sự ngây thơ một cách chân thành của nó.
- Vậy thì, tóm lại, chúng nó học cái gì ở trường nhỉ? Mười năm nay, năm nào nó cũng được học sinh giỏi, học sinh tiên tiến, thế mà một học sinh giỏi trường Việt Đức lại không biết năm 1911 bác Hồ đi đâu, làm gì?

Người lớn ngơ ngác hỏi nhau.

Cô nó mang về cho nó cuốn Nguyên ơi! của nhà văn Lê Hải Triều, một cuốn sách đã lấy không biết bao nhiêu nước mắt của độc giả, hi vọng là nó sẽ có một vài biến chuyển trong cách suy nghĩ về trách nhiệm của một cá nhân trong cộng đồng nhỏ là gia đình, cộng đồng lớn là xã hội, nhưng chờ mãi, chờ mãi, nó đọc gần một tuần mới xong. Bố nó hỏi, con thấy cuốn đó thế nào? Nó tỉnh queo: Đọc mãi đến đoạn cuối mới hơi hơi xúc động một tí, còn thì bình thường. Trong khi đó, chị giúp việc thì hai buổi trưa liền, dấm dúi mang ra cửa sau đọc để.... khóc thút thít mà không ai nhìn thấy.

Hình như hiện tượng này không hiếm

Thậm chí nó tương đổi phổ biến.

Hình như thế hệ 9x đang đi vào một quỹ đạo riêng mà người lớn chúng ta không hiểu được?
Có bao giờ bạn đọc các entry trên 360 của bọn trẻ 9x này không? Bạn có đọc được không? Tôi đã từng phải vừa đọc vừa suy luận, hết nửa giờ đồng hồ mới xong một cái entry như vậy. Vì nó được viết bằng một thứ ký tự không phải tiếng Việt, cũng không phải tiếng Anh, Trung hay Pháp, nó là thứ ký tự hoàn toàn không có trong bất kì cuốn từ điển nào. Nhưng bọn trẻ 9x thì thống nhất với nhau chỉ sử dụng mỗi một loại ký tự đó trên 360, và bọn chúng hiểu hết. Ví dụ, một đoạn chat được chúng thể hiện thế này: bun` w0', ko mun s0ng nua/sao vay ?/nha` ta0` la0, h nay k0n ngu0j ta dc dj ch0j em thj o~ nha`/bua nay thu 3 ma/th0aj/nhung mu` hum nay ngay kj njem 3 thang wen, mun dj ch0j, thik hum we dj uj/tai ba me ko biet/nhung bay h dau phaj v0 h0x chjnh thux' dau

Chắc chắn phải có một quy luật nào đó. Và chắc chắn phải được một "thiên tài" 9x nào đó nghĩ ra. Chỉ riêng văn bản trên blog thôi đã đủ chứng tỏ con em chúng ta đang có một thế giới riêng mà người lớn không "xâm nhập" được.

Trên một cái forum của webtretho, những đề tài được các bà mẹ và ông bố quan tâm nhất là đề tài kiểu: Tuổi teen nghĩ gì ... ? Help ... ! hay Tâm sự của con gái 16 tuổi... Và tóm lại là một câu hỏi: Làm thế nào để người lớn và con trẻ hiểu được nhau?

Thật là không hiểu nổi! Đấy là câu cửa miệng của nhiều ông bố bà mẹ mỗi khi gặp nhau lại thở dài thườn thượt. Không thể theo con 24/24, thậm chí nếu có tỉ mẩn ngày nào cũng đưa đón con đến tận cổng trường thì ngay sau khi bạn quay lưng lại, có khi con bạn đã biến mất trong một hàng "nét" nào đó rồi. Bọn trẻ hôm nay, cảm giác nhiều đứa trong số đó sẽ chết nếu không có "nét" , điện thoại và ti vi (Oặc, chúng còn cần mấy thứ đó hơn cả chúng ta!!!). Cuộc sống của chúng là "online" và High School Musical (một bộ phim mà đứa trẻ 9x nào cũng biết trên kênh Disney Channel), là quần bó sát mặc với áo đồng phục, tóc ép thẳng đuột lõa xõa xuống mặt và những cuộc điện thoại triền miên.

Tôi có cực đoan không?

Đó không phải là tất cả. Chắc chắn sẽ có người nói vậy. Nhưng đó là một số đông với tỉ lệ mà nếu có ai đó kì công điều tra ắt sẽ làm cho các ông bố bà mẹ ...phát ốm.

Và ông anh tôi thì đã phải bỏ cả việc làm để ở nhà canh chừng con. Một thằng con trai cũng thuộc thế hệ 9x, luôn luôn làm bố mẹ phải đau đầu vì nó đang sống một cuộc sồng thích chơi hơn học, không ước mơ, không hoài bão, chỉ online và High School  và nấu cháo điện thoại. Với nó, thế mới là cuộc sống sành điệu!!!!!!!

Buồn không?

Buồn quá đi chứ, vì bố tôi - một ông già miền núi gần 80 tuổi, ông nội của thằng bé nói trên, người vẫn ngày ngày vác bỏ cỏ 50kg từ ngoài đồng về nuôi cá, dành dụm mấy đồng tiền bán cá còm cõi làm phần thưởng cho cháu đích tôn, đã phải thở dài mà nói: Bó tay rồi. Ông bó tay thật rồi đấy.
Phải chăng chúng ta không hiểu được con em chúng ta? Chúng ta già cỗi quá, lạc hậu quá, hay cực đoan quá? Hay chúng ta chưa biết sống cuộc sống của bọn trẻ để có thể hiểu được chúng?
Có người nó với tôi rằng: Đó là do hội chứng đám đông gây ra. Kiểu như bọn trẻ bị lây cúm của nhau vậy. Và đến một lúc nào đó, qua cái ngưỡng dậy thì đi, học cao hơn  nữa thì chúng sẽ tự điều chỉnh.

Được thế thì tốt quá. Chỉ sợ, lúc chúng tự điều chỉnh được thì muộn mất rồi. Gì chứ việc bác Hồ đi đâu năm 1911 mà phải đến khi tốt nghiệp đại học mới biết thì còn bao nhiêu thứ khác phải 5 hay 10 năm sau nữa mới biết ư? Thế thì cuộc đời con người phải kéo dài 120 năm hoặc hơn nữa mới đủ
Nhà văn Đỗ Bích Thúy

NAM DAO: NHÂN MỘT CUỘC LẠI LUẬN BÀN “TRÍ THỨC LÀNG VŨ ĐẠI”


 (nhân một cuộc lại luận bàn)

Thật khổ. Ngày Xuân, định hầu chuyện vui, nhưng chẳng  được. Vì cái chuyện đang râm ran, chuyện trí thức làng Vũ Đại. Hẳn làng này nhiều người biết, có dịp tham quan, và đôi khi chuyện trò với những nhân vật làng. Nào Bá Kiến, nào Chí Phèo, nào Thị Nở. Nhưng ít người tiếp xúc với Mõ.
Mõ làng Vũ Đại trạc trung tuần, nhỏ thó, gầy guộc, nói thì nhướng mắt, vênh mặt,  nhưng chỉ vì hai cái nỗi bẩm sinh. Một là mắt kém. Hai là thấp bé, không  vênh mặt để người đối thoại thấy dung nhan mình thì bị kết là thiếu trung thực, thành khẩn. Mà vênh thì...Tai ương thế đó, ai bảo Tạo Hoá đã lỡ sinh ra một con người dị dạng, vừa  xấu xí, vừa dễ bị hiểu lầm...Nhưng cái gì khiến Mõ liên quan đến Trí Thức. Và lại là tầng lớp trí thức thời hiện đại trong khi cái làng Vũ Đại  có một  Mõ vốn đã xa xưa. Làng xa xưa truyền thống khi  nào cũng có nhân vật Mõ này, kể cả  làng Vũ Đại do ông Nam Cao làm giấy khai sinh.  Thêm dăm ba nhân vật cũng rất truyền thống: ông Xã, ông Lý và anh Trương tuần. Khỏi cần nói, họ đều có những liên hệ mật thiết với Bá Kiến.
Dân làng Vũ Đại hỏi, trí thức là gì? Làm gì? Ăn nói thưa gủi ra sao? Làng ta thật có một tầng lớp trí thức không? Tầng lớp này, nếu có, liệu có thể coi như là tầng lớp tinh hoa (intelligentsia) của làng không? Ôi thôi, những câu hỏi  này sinh ra từ  ‘’vấn nạn’’ truyền thông thời thế giới phằng phẳng. Châm ngòi là nhà văn Phạm thị Hoài [1], người đã từng gọi trí thức phò chính thống là trí thức quan văn.  Thêm một lần, nhà văn lại sáng tạo ra cụm từ ‘’ đối lập trung thành’’, chỉ những  người  phản biện (nghĩa là  nói  ngược) trong những khuôn khổ không đụng đến cốt tủy sự tồn tại của  tính thống soái chính trị nằm lù lù trong làng Vũ Đại. Nghĩa là chớ đụng đến quyền uy của bộ tứ Xã, Lý, Trương tuần và ( mới đây, nhất là) Bá Kiến. Ngày chưa xa lắm, có Mõ nhưng Mõ chỉ ú ớ rao lại những  lời lẽ cấp trên thông qua, tên là nghị quyết. Hiện thời, bộ tứ ngày một hủ hóa, dân làng Vũ Đại rục rịch  lời nọ tiếng kia. Không ai đến chặn họng, thì nói. Những người phản biện làm Mõ tân thời. Họ vạch ra những yếu kém trong Giáo dục, Y tế, Quản lý Tài Nguyên, Bảo vệ biên cương... Họ cũng nêu lên sự cần thiết của Tam quyền phân lập (mong chống tham nhũng!), sửa  đổi Hiến Pháp, đòi quyền Tự do Ngôn luận và Tư tưởng. Những Mõ đảng viên ĐCSVN thì rụt rè ‘’xin’’ nới  cho chút dân chủ nội bộ. Họ ở trong hệ thống, và nói cho chính xác, họ đề đạt những cải cách nhằm tân trang môi má cho hệ thống mỹ miều hơn.
Muốn thế, họ nói phải có lý luận. Lý luận cho sắc bén thuyết phục, họ phải có kiến thức. Mõ tân thời đi học, có kẻ có học hàm học vị, kiếm sống bằng ngành nghề chuyên môn. Có Mõ tự học, trau dồi kiến thức, và qua những  thành tựu họ được  dân làng trọng vọng gọi là nhà văn, nhà báo, nhà...nọ nhà kia. Nói chung, dân làng gọi họ là trí thức. Nhưng không  phải là Mõ ắt ai cũng làm cái công việc phản biện mong góp phần vào việc lèo lái xã hội làng ta. Hơn kiến thức, họ phải có dũng khí nói lên điều có thể nói được trong những điều kiện o  ép của một hiện thực ngặt nghèo. Bộ tam quyền hợp nhất  Xã, Lý,  Bá sẵn sàng dùng hèo anh Trương tuần để ổn định dư luận. Mõ nào ớn lạnh, trùm chăn, dân làng gọi là ông trí thức câm như hến im như thóc. Mõ nào còn hăng, phản biện nhằm hướng dẫn dư luận trong làng về những  gì Mõ thấy hợp lý hơn, tốt đẹp hơn, làng Vũ Đại gọi họ là trí thức chịu chơi phản biện. 
Ngôn ngữ sang cả hơn, loại này là trí thức dấn thân, chữ của những  J.P. Sartre, rồi N. Chomsky....   Kẻ trong nước, người  hải ngoại, tầng lớp Mõ này mang đặc thù ‘’ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng’’. Khi đi từ đầu làng đến cuối thôn rao và giảng, Mõ phản biện cẩn thận giới hạn lời lẽ mình trong cái khuôn cải lương cải cách, tránh không kêu dân làng  làm cách mạng vùng lên và lật đổ bộ tứ quyền uy. Đối lập, dĩ nhiên tí ti. Nhưng để tồn tại, đành trung thành nháy nháy.  Chiến thuật giai đoạn này khiến ông Bá, ông Lý không  thể sai anh Trương ồ ạt xử dụng hèo ( tên mới là roi điện), chỉ đáp lại phản biện  bằng sự im lặng khinh khi. ‘’Đối lập trung thành’’ như thế cũng nhục, nhưng không  thể khác được.  
Và sự ‘’lạc quan vô tận’’, chữ của nhà văn Phạm thị Hoài,  nếu có thì... đó chỉ là thuộc tính sìu sìu ển ển của một nền văn hóa ca ngợi dân làng Vũ Đại giẻo như tre yểu điệu múa may trong gió dữ. Ấy, nếu giẻo thế mà giữ được gốc  thì ‘’cũng tốt thôi’’. Nhưng e đây mới chính là cái lạc quan tếu vô tận. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Cái gốc đạo lý đang bị đánh bật ra khỏi con người. Cứ đọc tin như học trò đánh thầy, con giết cha, mẹ mang con đi bán...thì ôi  thôi!
Mới vừa rồi, lại thêm một cơn Tsunami trong tách trà Thiết quan âm. Số là GS kiệt xuất Ngô Bảo Châu [2] cho là không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng ông lại nêu  vấn đề trách nhiệm của những phản biện với cộng đồng, và cảnh báo (?!) nguy cơ phong trào lạm dụng phản biện để được phong ‘’hàm’’ trí thức [3]. Thế là cộng đồng Mõ rêu rao ‘’ con người  tự do thành chú cừu thông thái’’, đưa ngay ông từ vị thế một nhà Toán học sáng láng  ‘’ không có lề’’  sang chỗ chú cừu con ‘’lề phải ‘’.   Kinh thật. Châm trích, chòng ghẹo, mạ lị...nhiều khi  khó thật biết động cơ đằng sau. Nhưng hệ quả là Mõ làng ta nhộn nhạo, chia rẽ, khiến quyền bính đương ngự trị tha hồ vỗ tay khoái chí. Và dĩ nhiên, thế thì  chẳng mấy vui buổi trời đất vào Xuân.
Bước khỏi vũng lầy làng Vũ Đại ngày đầu năm, cùng hướng mắt nhìn bốn biển trong ba năm qua thì, khổ thay, lắm chuyện trên thế giới này cũng cần phản biện. Môi trường bị hủy hoại, những  tập đoàn tài chính Âu -Mỹ trở thành cướp ngày,  tiếp nối  mùa xuân Ả Rập có thể sẽ có một mùa đông Hồi giáo chính thống với khả năng Thánh chiến tạo đụng độ giữa những nền văn minh kiểu civilization clash theo Huntington, kinh tế toàn thế giới xuống dốc và, eo ôi, ông Trung Quốc đang hùng hổ dướn người  bay lên như Rồng vẫy đuôi ngay cạnh Hữu Nghị quan, dương móng vờn cợt Biển Đông đổi tên thành biển Nam Hải...Kinh tế và chính trị toàn cầu, như chuyện làng Vũ Đại ta, cũng lại cần tái cấu trúc....Thôi, trí thức ở đâu phản biện ở đó, và xin chúng ta cùng hô ‘’ Mõ trên toàn thế giới nhỏ xíu phẳng phằng phăng này, hãy đoàn kết lại!’’. Hô như thế là hô cho cả Mõ làng Vũ Đại ta, quê hương Chí Phèo, Thị Nở, nơi có cái lò gạch cũ. Xin đạo văn [4] ( trích và có bổ sung ):
Sáng tinh mơ, anh thả ống lươn nhặt được một đứa bé mới đẻ đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ. Anh   đem về cho người đàn bà góa mù, bà này bán lại cho bác phó Cối. Bác cưu mang nó, đặt tên là Chí. Khi bác phó Cối chết, thằng bé bơ vơ, lớn lên như cây cỏ, và mãi năm 18 tuổi đi làm tá điền cho Bá Kiến. Vợ ba Bá Kiến bắt Chí xoa bụng đấm lưng... Bá Kiến ghen, lập mưu khiến một hôm Chí Phèo bị bắt giải lên huyện… Đi tù bảy, tám năm sau, Chí trở lại làng. Về hôm trước thì chiều hôm sau hắn xách vỏ chai đến thẳng nhà Bá Kiến gây sự. Xô xát với Lý Cường, hắn đập vỏ chai, rạch mặt kêu trời ăn vạ. 
Mấy hôm sau, Chí Phèo đốt quán bà bán rượu... Hắn mang theo một con dao nhọn đến đòi giết Cụ Bá để đi ở tù. Tránh né và rồi nói khích, cụ đã sai được Chí Phèo đến nhà đội Tảo đòi 50 đồng bạc nợ cho cụ. Chẳng phải   đổ máu, hắn đã đòi được nợ đem về. Cụ Bá cho hắn 5 đồng và bán cho hắn 5 sào vườn ngoài bãi sông mới cắm thuế của một người làng.  Hắn trở thành anh đầy tớ chân tay mới của Bá Kiến, chuyên đâm thuê chém mướn... Hắn đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt...  trong lúc say rượu. Say mãi, say bí tỉ, hắn chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi con mẹ chết tiệt nào đẻ ra hắn cho hắn khổ... 
Tình cờ một đêm trăng, Chí Phèo lần vô nhà Tự Lãng, tên hoạn lợn kiêm nghề thầy cúng. Hai đứa uống hết 3 chai rượu. Hết rượu, Chí lảo đảo đi về lều. Hắn gặp Thị Nở đang há hốc mồm ngủ dưới trăng. Hắn ôm chầm lấy thị, ăn nằm với thị. Gần sáng Chí bị cảm, hắn được Thị Nở, người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn cho ăn cháo hành. Cũng là lần đầu tiên hắn được ăn cháo do bàn tay một người đàn bà nấu cho. Hắn bâng khuâng nhớ lại một thời trai trẻ, những  giấc mơ xưa, và hắn muốn cùng thị xe duyên. Chí Phèo thèm trở thành người  lương thiện, vợ con đàng hoàng. Thị Nở  xin phép bà cô lấy chồng nhưng bị bà xỉa xói. Thị ton ton chạy  về  trút   giận dữ lên đầu người tình rồi bỏ đi. Chí Phèo ngẩn mặt , chạy theo Thị Nở. Hắn bị thị giúi cho  ngã lăn xuống đất. Toan đập đầu ăn vạ nhưng hắn chưa thật say. Và hắn lại uống, uống thêm chai nữa, càng uống càng tỉnh. Hắn nay biết kẻ nào đã dồn hắn vào con đường bất lương. Đến nhà Bá Kiến với con dao ở thắt lưng, hắn đòi lại lương thiện. Chém chết Bá Kiến, hắn đâm cổ tự sát...
Truyện Chí Phèo của Nam Cao kết bằng hình ảnh  Thị Nở  nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ hoang. 
Để đỡ bức xúc, mời các bạn thư giãn đọc postcript do tôi bịa ra, với lời xin nhà văn Nam Cao thứ cho cái tội  lam nham cắt dán văn bản kiểu hậu hiện đại:
Thị Nở hạ sinh được  một đứa con trai. Mặc dân làng Vũ Đại dè bỉu, thị nuôi con, bắt đi học. Trong chiến tranh, nó nhập ngũ, lên đến Thượng Tá  rồi mới về hưu. Năm nào, cứ đến Tết,  ông Thượng Tá  lại dẫn vợ và một đứa con trai trạc mười ba mười bốn về thăm Thị Nở. Nay lưng còng, mặt mũi nhăn nheo, nhưng cụ Nở so ra trông còn đỡ xấu hơn thời con gái. Gia đình bốn người   đi lại cái lò gạch cũ, cạnh đó là nơi xưa Thị Nỡ chôn cất Chí Phèo. Họ khệ nệ hương hoa, và bưng theo một chai rượu thật hoành tráng. Cụ Nở bảo đứa cháu:  

- Mộ ông mày  đây,  cúi xuống nhặt cỏ cho ông đi cháu! 

- Thôi bà ơi, cháu sợ rắn lắm...  

- Cháu không nghe thấy tiếng xe cào, xe ủi đất đang chạy rầm rầm kia à...Rắn nào còn dám ở đây!
Ông Thượng Tá nhìn quanh, hỏi:  

- Bu ơi, họ đền bù có khá không?  

- Tao nghe nói là dân khiếu nại lên đến Trung Ương nhưng chưa ăn thua gì. Ủy Ban ở đây họ đã làm hợp đồng xử dụng đất với một công ty bên Quảng Châu rồi, bảo là tình thế không đảo ngược được nữa, có ăn vạ thì cũng vậy. Bà cụ thở dài, mơ màng - ngày còn sống, ăn vạ là bố mày đập chai rượu lấy mảnh cào cho nát mặt ra mà cũng chẳng ăn thua gì...Những Bá Kiến  với Lý Cường lúc nào cũng bình chân như vại thôi! Này cháu, nhặt cỏ với bà đi...
Thằng bé toe toét: 

- Nhặt thì bà thưởng cho cháu cái gì nào?  

- Mày muốn gì, cứ nói bà biết...  

- Cháu muốn một khẩu súng. Súng hoa cải [5], bà ạ!
ngày 2 Tết Nhâm Thìn
NAM DAO
[3] Từ trí thức này có nguồn gốc sâu xa, mời bạn tham khảo bài tiểu luận của Thái Kim Lan (2008)

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=3&News=36
[4] http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%AD_Ph%C3%A8o
 [5] Súng này trở thành nổi tiếng sau vụ cưỡng chế đất  ở Tiên Lãng.

Sunday, January 29, 2012

CHỢT THẤY HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ LÊ CHIÊU THỐNG


Tết năm nay nghỉ nhiều hơn mọi năm. Vui thật, nhưng cũng có chút bâng khuâng. Khi đánh vi tính cho bài viết này, tôi nghĩ lại những ngày giáp Tết. Đối với tôi, thời gian ấy, công việc quả là bận rộn. Nào là lo nốt những chuyện chưa xong trong năm, nào là dọn dẹp lại nhà cửa, quét dọn rác rưởi cả năm... để đón xuân.
Thế nhưng, vẫn có chuyện chưa xong. Lòng tự nhủ lòng thôi thì để rồi sẽ tính.

Được nhất, thú vị nhất là giờ phút giao thừa. Ngày thường, vì chuyện này chuyện nọ, dù là người mình yêu thương nhất, đôi lúc cũng có tiếng qua tiếng lại, vẫn có những ý kiến trái ngược nhau, đôi lúc bực mình, tức tối. Nhưng đến phút Giao thừa, các thành viên trong gia đình tôi, không ai bảo ai, tự răn mình, đối đãi tử tế, tình cảm, và tôn trọng nhau. Sau khi cúng Giao thừa xong, các thành viên trong gia đình tôi ngồi quanh bàn uống trà, ăn bánh, mứt... Rồi lì xì mừng tuổi, chúc nhau những lời tốt đẹp cho cả năm.
Sau đó, tôi chở vợ, cùng con đi chùa. Vài năm gần đây, chiều theo ý vợ, tôi cũng thành tâm khi đến chùa. Giờ phút đầu năm quả là tuyệt diệu. Cảnh chùa khói hương nghi ngút. Đông người thật. Nhưng không ai chen lấn ai. Trước sân chùa, có một cây cảnh vừa tầm, trên mình nó mang những lời chúc Tết, cầu may được ghi sẵn, gọi là “lộc xuân”. Rất nhiều, đủ để mọi người đi chùa lễ Phật có thể “hái lộc” đầu năm.
Rất nhiều “lộc”. Không biết có phải đó là “lộc” bằng giấy, nên chẳng có ai tranh giành, cướp giựt? Chỉ có sự nhường nhau, rất lịch sự, tử tế. Chỉ có lời chúc nhau, cùng những cái gật đầu, bắt tay dù người đối diện chẳng mấy thân quen. Lòng tôi dâng lên niềm vui. Ước gì cả năm mọi người lịch sự, tử tế với nhau!
Rồi những ngày Tết cũng sắp hết. Sáng nay, gỡ tờ lịch. Đúng ngày mùng 5. Nhớ lại trước đây, khi còn đi học, ngày này được nghỉ lễ. Không phải là lễ Tết mà là lễ Chiến thắng Đống Đa. Nhưng năm nay tôi chẳng thấy ghi. Trước mắt tôi, tờ lịch nhòe đi, hiện lên hình ảnh Lê Chiêu Thống đang cười mỉa tôi, đang nhạo báng, thách thức tôi. Tôi giương to mắt nhìn. Xem mình có nhầm không. Trong đầu tôi hiện ý của ai đó nói là thời gian sẽ xóa nhòa đi tất cả. Nhưng thời gian dễ gì xóa nhòa lịch sử. Không lẽ thời gian lại hiện lên gương mặt kẻ rước voi về giày mã tổ trên tờ lịch, trên thời gian. Tôi  buồn. Đâu rồi hình ảnh Quang Trung đại phá quân Thanh? Đâu rồi tiếng hò reo thắng lợi giữa Thăng Long? Đâu rồi? Đâu rồi?...
Sáng nay, ăn nốt những lát bánh tét cuối cùng. Nhai lát bánh chiên, tôi thoáng thấy hình ảnh quân Tây Sơn hành binh ra Tam Điệp, rồi thoáng thấy bữa ăn vội của họ trước trận đánh Ngọc Hồi - Đống Đa. Tôi cũng thoáng thấy hình ảnh các chiến sĩ Hoàng Sa năm nào chưa kịp ăn miếng bánh tét, lại phải đổ máu hy sinh vì nước, vì non. Và trước mắt tôi hình ảnh những người chiến sĩ Trường Sa ăn bánh tét, canh giữ biển trời nước Việt. Ngàn lần biết ơn các anh. Tôi phải gọi thế dù đầu tôi đã bạc! Tôi xin các anh có một chút yên bình để nhâm nhi chút trà, chút mứt... Xin các anh đừng ăn vội bánh tét ngày xuân. Xin các anh cứ thư thả hưởng hương vị quê nhà qua từng thời khắc...
Có tiếng điện thoại reo vừa lúc tôi ăn sáng xong. Tôi vội nghe. Thằng bạn thân gọi tôi đi uống cà phê sáng. Rửa miệng, rửa tay xong, tôi đến chỗ hẹn.
Vẫn còn không khí xuân. Ngồi uống cà phê, nhìn trai gái du xuân, tôi mừng cho những buổi sáng yên bình. Không biết có còn ai không được hưởng vẹn cái tết bên người thân? Không biết có còn ai không được vui xuân trọn vẹn?
Trong tôi rộn lên âm thanh mùa xuân. Trước mắt tôi hiện lên sắc màu xuân của dáng vẻ trai gai du xuân. Đặc biệt các cô gái. Các cô đang tinh nghịch, đang chỉ trỏ ai đó. Tôi như thấy bóng dáng Hồ Xuân Hương cùng các cô gái du xuân. Tôi thấy rất rõ các cô tủm tỉm cười, ánh mắt tinh nghịch, đang chỉ trỏ... Và tiếng thơ Hồ Xuân Hương bỡn cợt: Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo – Kìa đền Thái thú đứng cheo leo... Và rồi điệp khúc đứng cheo leo lại vang lên. Các cô vừa nắm tay nhau vừa hát đứng cheo leo liên tục, đến nỗi tượng Sầm Nghi Đống phải đổ quỵ. Có lẽ Thái thú họ Sầm xấu hổ! Ai đời nam nhi lại bị nữ nhi chọc ghẹo là thứ đứng cheo leo? Có đòn nào làm bẻ mặt anh hùng hơn thế? Tôi phục ngàn lần Hồ Xuân Hương và các cô gái!
Rồi hình ảnh Hồ Xuân Hương cùng các cô gái biến mất trước mắt tôi. Tôi trở về thực tại.
Hôm nay ngày mùng 5 Tết âm lịch. Chiến thắng Đống Đa đâu rồi? Không lẽ Lê Chiêu Thống cùng bọn quân Thanh  có phép xóa nhòa lịch sử?
Mùng 5 Tết Nhâm Thìn
Phan Trang Hy