.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Friday, March 8, 2013

CHUYỆN TÌNH ĐẸP NHƯ CỔ TÍCH CỦA NGƯỜI ĐẸP VIẾT VĂN… DẠY VÕ

Buổi tối hôm sắp rời Áo, sau khi khi chia tay, Yến về khách sạn nhưng đã phải dừng lại 4 lần vì dù nói tạm biệt nhưng Michael vẫn không chịu rời đi. Tuyết lất phất rơi trên phố, anh run rẩy nói: "Anh sẽ đi tìm em. Hãy cho anh cơ hội !".

Vợ chồng Bích Yến và con trai (bên trái ảnh) về thăm quê dịp Tết Nguyên đán vừa qua

Lần đầu tiên gặp Nguyễn Thị Bích Yến, tác giả tập truyện "Một nửa là người" (giải thưởng Văn học nghệ thuật của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam, 2008), tôi không ngờ cô gái tóc dài, mặt hoa da phấn ấy lại còn là huấn luyện viên Taekwondo và là một trong số ít trọng tài nữ của Liên đoàn Taekwondo Việt Nam.
Rồi chúng tôi trở thành bạn bè tâm giao. Tôi mới hiểu cái chất văn- võ ở con người của Yến không hề mâu thuẫn. Đôi khi cô ấy thật cứng rắn, mà có lúc lại mềm yếu không ngờ. Nhưng bao giờ cô ấy cũng sống rất tình cảm, trọng ân nghĩa.
Xinh đẹp là thế, bước qua tuổi 30, vẫn một mình lẻ bóng. Người theo đuổi cô thì không thiếu, bản thân tôi từng chứng kiến và thậm chí phải bất đắc dĩ đứng ra khuyên nhủ an ủi một người yêu nàng đắm đuối mà không được đáp lại.
Hồi đó, trong những câu chuyện chị em, tôi đã có lần khuyên cô ấy đừng mãi chờ một "chàng hoàng tử" của trái tim mình, mà hãy chọn trong đám "vệ tinh" để kết hôn với một người phù hợp. Con gái có thì, dễ mà trẻ mãi, đẹp mãi được đâu?
Thế rồi, Yến bảo đang có một người. "Nhưng em còn đang phân vân lắm, để sau này sẽ kể…".
Đùng một cái, cô ấy đi nằm viện. Lý do là đuổi bắt cướp, bị ngã gãy chân!
Lần nằm viện đó của Yến kéo dài đến gần 2 tháng. Cô ấy buồn rầu bảo, có lẽ chân em không lành lại được nữa đâu.
Thời gian đó chắc hẳn phải rất khó khăn với Bích Yến, nhưng lại là dịp để cô thấy được tình cảm chân thành của Michael Platz, người con trai Áo, sau này là chồng của cô, để quyết định gắn bó cuộc đời với anh mãi mãi.
Cũng may mà sau này, cô vào điều trị ở bệnh viện Thể thao, được một vị bác sĩ rất giỏi người Đức phẫu thuật cho. Kết quả sau ca mổ rất khả quan.
Chưa lành thì cô đã phải sang Áo công tác. Bích Yến gửi về cho tôi tấm ảnh chân dung đang… chống nạng, và cũng thông báo: Em sẽ lấy chồng!
Đám cưới đã diễn ra ở Vienna, hình cô dâu chú rể xuất hiện trên tờ báo Wiener zeitung (1703) một trong những tờ báo lâu đời nhất thế giới còn họat động.
Sau đó, chúng tôi dự lễ cưới của Bích Yến ở Hà Nội. Dịp ấy, tôi mới được nghe Bích Yến kể về mối tình của mình với chàng trai người Áo, Michael Platz.
Người đàn ông… kiên trì nhất nước Áo !
Michael Platz sinh năm 1971, tốt nghiệp cao học hai chuyên ngành Lịch sử và Khoa học chính trị, Đại học Tổng hợp Wien. Hiện tại, anh làm cho EMIG - EU; cũng là Ủy viên BCH Hội hữu nghị Áo - Việt; Phó Chủ tịch Greet Party, Wien 23.
Vợ chồng Bích Yến và các PV đài Truyền hình quốc gia Áo (ORF)
Ban đầu họ quen nhau qua một người bạn, trong dịp Michael Platz sang thăm Việt Nam sau khi làm xong luận văn thạc sĩ về "Kinh tế đổi mới ở Việt Nam". Lúc đầu Yến cũng không bận tâm nhiều dù Michael vẫn gửi email thường xuyên.
Sau này, khi Bích Yến sang Áo trong một hoạt động giao lưu văn hóa, Michael tìm gặp cho bằng được. Buổi tối hôm sắp rời Áo, sau khi khi chia tay, Yến về khách sạn nhưng đã phải dừng lại 4 lần vì dù đã nói tạm biệt nhưng Michael vẫn không chịu rời đi. Tuyết lất phất rơi trên phố, anh run rẩy nói với cô: "Anh sẽ đi tìm em. Hãy cho anh cơ hội !".
Bích Yến về nước rồi, anh vẫn viết thư, gọi điện mỗi ngày. Nhưng mỗi người một nơi, xa xôi như vậy, gắn bó với nhau có phải là một ý định viển vông? Hơn nữa, một mối tình đẹp mà rồi kết thúc đổ vỡ là điều cô đã từng trải qua, khiến cô không dễ đặt lòng tin vào những cử chỉ, lời nói của một người đàn ông, dù họ có tỏ ra chân thành đến mấy.
Sau này, Yến về làm dâu nhà Michael, mới nghe mọi người kể lại rằng, một hôm Michael đã họp gia đình và nói rằng anh sẽ sang Việt Nam để tìm người con gái anh yêu. Bố và em gái anh hỏi liệu đó có phải là người mà anh muốn gắn bó cả đời không? Anh quả quyết là phải. Rồi bố anh lại hỏi: "Cô ấy có yêu con không", thì anh nói: "Con không biết. Nhưng con sẽ ở Việt Nam cho đến khi nào cô ấy đồng ý".
Sang Việt Nam, Michael đã tìm hiểu mọi thông tin về Bích Yến, nơi làm, chỗ ở; lại tìm cách tiếp cận với các người thân của cô. Lúc này thì Yến hơi khó chịu với sự "đeo bám" quá đáng của gã si tình. Nhưng qua mấy tháng ròng Michael đã chinh phục được gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của cô, ai cũng thấy anh kiên trì và đáng mến.
Thời gian sau đó, khi cô bị gãy chân, Michael được dịp lăn xả vào chăm sóc, khiến mọi người xung quanh rất cảm động.
Tết năm đó Michael xin theo Bích Yến về thăm quê. Mấy ngày Tết, mẹ Yến nấu nước lá tre cho cô ngâm chân, Michael thì bóp chân cho cô. Rồi khi sắp hết Tết anh trịnh trọng thưa với gia đình cô và quỳ xuống trước mặt cô để cầu hôn. Bố cô, một người đàn ông vốn cương nghị, đã bật khóc và thốt lên với con: "Tao chưa bao giờ thấy thằng đàn ông nào yêu như thế này. Nó làm tao xúc động quá".
Hai người đính hôn. Tuy nhiên, ngay sau đó bác sĩ thông báo với Bích Yến rằng có thể chân cô sẽ không bao giờ lành lặn như trước. Cô bị sốc nặng, rơi vào trạng thái bi quan, thất vọng. Cô trả nhẫn cho Michael, nói cho anh biết hết sự tình.
Nghe xong, anh ôm lấy cái chân đau của cô và bảo: "Người ta không chỉ đi bằng hai chân mà còn đi bằng cả trái tim. Dù em có phải ngồi xe lăn thì anh vẫn cưới em".
Anh đã làm cô "tỉnh ngộ". Từ phút ấy, cô nhận ra mình đã gặp được người đàn ông đích thực của đời mình. May mắn mỉm cười khi cô được bạn bè đưa đến Bệnh viện Thể thao Việt Nam để nhờ bác sĩ Moos, người Đức, được mệnh danh là vị cứu tinh của các vận động viên Việt Nam, phẫu thuật. Để được bác sĩ Moss mổ thì phải đăng kí trước cả năm trời, nhưng sau khi được biết cô cũng từng là trọng tài, HLV, VĐV Taekwondo và lại là nhà báo nên có lẽ bác sĩ cũng linh động ưu tiên. Michael cũng liên lạc để xin ông giúp đỡ. Ca phẫu thuật thành công, bác sĩ kết luận chân cô sẽ lành trở lại.
Và thế là đám cưới trong mơ đã diễn ra, đoạn kết đẹp như chuyện cổ tích giữa đời thường!
Trong đám cưới, bạn bè anh đã tặng một tấm bưu thiếp mà họ tự làm, với dòng chữ: "Michael Platz là người đàn ông kiên trì nhất nước Áo".
Làm dâu xứ lạ
Theo chồng sang Vienna, lạ nước lạ cái, bao nhiêu điều bỡ ngỡ. Cha mẹ chồng Yến rất tốt, coi Yến như con ruột, luôn ân cần chăm sóc. Cha chồng thấy cô thích tập võ, đã đi mua bao cát tập về làm quà Noel cho cô. Còn mẹ chồng, thời gian cô mang bầu thì bà thường đưa cô lên cơ quan (báo Wiener Zeitung) để thực tập; rồi đưa đến cổng VP Tổng thống, VP Thủ tướng để dự họp báo; đưa ra hiệu làm tóc, đưa đi mua sắm, đi ngắm cảnh thành Vienna.
Cách đây gần 2 năm, bé trai Colin ra đời, Bích Yến dù bận rộn trong thiên chức làm mẹ, nhưng vẫn tích cực tham gia các hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các sự kiện quan trọng như: Hội nghị báo chí và xuất bản Thế giới, Hội nghị chính sách thế giới, Diễn đàn bản sắc châu Âu, Hội nghị Bộ trưởng Tư pháp châu Âu, Hội nghị R20… và tất cả các chuyến thăm của các lãnh đạo cấp cao, các nguyên thủ thế giới đến Áo hàng tháng (như Tổng thư kí LHQ Ban Ki - Moon, Thủ tướng Đức Merkel, Chủ tịch Liên minh châu Âu...).
Yến đang làm Đại diện thường trú của báo Văn nghệ tại Áo và EU và là cộng tác viên tích cực của báo Vietnamplus, Tuổi trẻ. Khi cô bận công việc, mẹ chồng chính là người đón con từ nhà trẻ về, cho cháu ăn, chăm sóc bé.
Tết Nguyên đán vừa qua, lần đầu tiên vợ chồng cô cho con về gặp ông bà ngoại và đại gia đình bên ngoại. Hai người gọi chuyến đi này là "Hành trình vạn dặm đầu tiên của con", họ chú ý lắng nghe những cảm xúc của con mình, cậu bé vừa tròn tuổi rưỡi !.
Michael rất yêu quê vợ. Anh thường thích thú được giới thiệu với bạn bè mình ở Áo những món ăn Việt, những bức ảnh phong cảnh Việt Nam. Nhiều người bạn của anh cũng "lây" sự yêu thích ấy, nên đã chọn Việt Nam làm điểm đến du lịch.
Hồi chưa lấy chồng, Yến từng tâm sự: mong ước có được người chồng đọc mình, góp ý cho mình trong mỗi tác phẩm; và khi có con, sẽ dạy võ cho con mình. Thế là giờ đây cô đã được toại nguyện.
Yến bảo, Michael là người có kiến thức sâu rộng, anh đã thực sự là một độc giả, một người thầy phản biện tuyệt vời của cô không chỉ trong văn chương mà còn cả trong lĩnh vực báo chí. Ví dụ, trước đây luận văn cao học của anh nghiên cứu về Những nỗ lực cải cách xã hội, chính trị và kinh tế của Việt Nam thì Yến lại làm luận văn cao học nghiên cứu về Giải pháp phát triển công chúng báo chí từ góc độ kinh tế của Áo. Michael đã góp ý rất nhiều cho luận văn của cô.
Với cậu con trai nhỏ của mình, Yến đã sắm cho bé bộ đồ tập võ, và dạy con những thế võ đầu tiên.
Tiếp tục những công việc yêu thích
Tranh thủ chuyến về quê ăn Tết, Bích Yến cũng gặp gỡ các thày cô, bạn bè đồng nghiệp để trao đổi một số vấn đề trong lĩnh vực báo chí, văn học, hội họa (giữa Việt Nam và Áo) mà cô đã và đang kết nối.
Nhiều quan chức, chính khách Áo như Đại sứ CH Áo, Nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Nghiên cứu Áo (nay là Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Giám đốc VP báo chí LB Áo… đã có chung nhận xét rằng: "Nguyễn Thị Bích Yến là cây cầu đầu tiên kết nối tình hữu nghị trong lĩnh vực truyền thông giữa hai nước và mong Bích Yến sẽ luôn tiếp tục công việc đó``.
Công trình nghiên cứu về "Công chúng thị trường báo chí Áo" của Bích Yến đã được Cơ quan Help.gv của Chính phủ Áo trọng thị lưu giữ làm tư liệu.
Mục tiêu trước mắt của cô trong lĩnh vực báo chí, Yến cho biết, cô vẫn theo đuổi việc nghiên cứu công chúng thị trường báo chí của Áo (có sự quan sát và so sánh với Việt Nam). Cuốn sách về đề tài này của cô vừa được NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản. Cô vẫn tiếp tục muốn nghiên cứu vấn đề ở cấp độ cao hơn cho cuốn sách sau. Bên cạnh đó, cô cũng ghi nhớ lời sư phụ là không bỏ võ thuật. "Tôi không thể bỏ võ, bởi võ đạo đã có ảnh hưởng lớn đến nhân cách của tôi".
Với văn chương thì cô vẫn sáng tác truyện ngắn và viết tiếp tiểu thuyết. Cô quan tâm nhiều hơn đến đề tài xoay quanh sự va chạm giữa các nền văn hóa. Yến tâm sự: "Đặc biệt, tôi nghĩ rằng: Thiên mệnh của người viết là hàn gắn lòng người. Cao hơn nữa nếu anh viết sao cho ác quỷ cũng có thể sống được với người, đó là đi đến cái đẹp, đó là thiên năng của người viết".
Theo VOV

HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT… CÁI CÒ, GIẢI YẾM ĐÀO…

Người phụ nữ trong văn học dân gian qua hình ảnh cái cò và giải  yếm đào, đó là một hình ảnh tuyệt vời và lãng mạn. Hình ảnh một con cò bé nhỏ giữa trời nước mênh mông đang tuổi xuân thì còn bức tranh nào đẹp hơn về màu sắc, có chiều sâu suy tưởng.  Phải chăng đó là viễn ảnh một cuộc đời vất vả, gian nan, cô đơn?  Định mệnh người phụ nữ Việt Nam trong cuộc đời qua biểu tượng cái cò đã đi vào văn học Việt Nam.
  
Cái cò mò tôm, bắt cá, dò dẫm bước từng bước trên ruộng nước bao la của đồng quê Việt Nam, một hình ảnh quen thuộc gắn chặt vào đời sống thôn dã.   Sự cần cù, nhẫn nại, kiên nhẫn, hy sinh tìm mồi nuôi con của cò mẹ không quản cái giá lạnh mùa đông, từ sớm mai cho đến hòang hôn, giữa cô đơn tĩnh lặng.  Cò mẹ ngửng đầu rồi lại cúi xuống, rồi lại dò dẫm bước những bước nhỏ nhoi giữa không gian cô đơn, đặc quánh đến cùng cực.  Cò mẹ cô đơn giữa đồng không mông quạnh ấy không ngoài mục đích mang mồi về cho con thơ dại.  Người phụ nữ Việt theo dòng lich sử chuân chuyên, vất vả không chỉ với con mà còn với chồng, với gia đình nhà chồng. 
Nuôi chồng nuôi con đã là một việc làm không tưởng.  Người phụ nữ còn quảy gánh sơn hà trong quá trình tồn tại của Việt Nam, không chỉ từ ngàn xưa, không chỉ một thời Nho Phong cực thịnh mà còn tiếp nối cho tới dòng lich sử rất gần trong thời điểm từ chiến tranh chống Pháp, chống Cộng Sản.  Người chồng, người cha không có mặt trong gia đình vì còn đang sống chết giữa tuyến đầu, trong các mặt trận xa gần, tranh đấu độc lập cho toàn dân Việt Nam, tranh đấu quyền sống tự do nhân bản cho người dân Việt dưới vĩ tuyến 17.  Phụ nữ Việt âm thầm chia xẻ từng giây từng phút tranh đấu cho quyền sống và tương lai của chồng con trên đất người, nơi tiếng nói, phong tục tập quán quá đỗi xa lạ.   Phụ nữ quẩy những gánh nặng trên vai trong dòng đời trong những thăng trầm lịch sử đã được đưa vào văn chương. Hình ảnh cái cò cô đơn trên cánh đồng bao la là biểu tượng là định mệnh người nữ  trong cuộc đời và văn chương Việt.  

Cái cò đậu cọc bờ ao
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay

Cái cò trong hai dòng thơ trên được ví von, hình ảnh một cô thôn nữ  rất trẻ trong làng quê êm đềm nào đó của Việt Nam, đang tuổi vào đời, mộng mơ.  Cái cọc trơ vơ trong cái ao là hình ảnh cô đơn, lẻ loi.  Cái cò đậu cọc bờ ao còn cô đơn đến thế nào.  Mặt nước có lẽ phẳng lặng, gió có lẽ rất nhẹ để cò lặng người trong suy tưởng. Còn hình ảnh nào trữ tình hơn, linh động hơn khi nhìn giải yếm màu đào đang bay trong gió. Nếu chưa từng ở vùng thôn quê hẻo lánh ta chưa biết màu hồng đào đẹp tuyệt. Đó là màu hồng thẫm duyên dáng chứ không phơn phót hồng như màu hoa anh đào Nhật. Các cô thôn nữ đều có một bộ cánh rất duyên dáng để mặc trong các ngày lễ hội của làng mình hay làng kế bên. Yếm màu đào, áo dài tứ thân màu nâu, váy màu đen đậm dài quá gót chân, đôi hoa tai bạc, tóc vấn vải có màu nâu của áo, hay màu đen của váy hoặc tóc vấn trần, và cái đuôi gà  tóc dài  đong đưa, dùi tượng màu đào hay màu thiên lý, chuỗi xà tích bạc, môi đỏ má hồng mắt long lanh say trầu hay vì niềm vui ngày hội.  Mỗi bước đi có nhạc điệu uyển chuyển, âm thanh xao động của chuỗi xà tích bạc.  
Yếm đào, màu hoa đào, màu của mùa xuân, màu của tuổi đang yêu, màu của nguồn sống, màu của thi nhân.   Màu đào chỉ dành cho con gái. 
Tranh thủy mặc chỉ vài nét mực để người thưởng ngoạn thả hồn mơ tưởng thế nào thì hai dòng thơ trên cũng chỉ là hai câu thơ ước lệ tuyệt vời để người đọc mường tượng. Tranh thủy mạc, thơ lục bát dễ hiểu: dòng thơ đầy hình ảnh đầy nhạc điệu đã chuyên chở được một kho tàng  văn hóa giàu nghệ thuật và đầy suy tưởng. 

Phất phơ hai giải yếm đào gió bay.   

Hai giải yếm mong manh trong gió nhẹ như cánh bướm chập chờn đưa người vào dòng lịch sử  của người phụ nữ từ ngày lập quốc.  Giải yếm huyền hoặc bay phất phơ trên màn vi tính, tạm dừng một giây phút thì thầm cùng người viết, rồi lại phất phơ bay, sẽ vẫn và mãi mãi là hình người phụ nữ Việt luôn luôn sát cánh bên chồng, ôm ấp đàn con trong chức năng làm vợ, làm mẹ, trong không gian hiện hữu của ngày hôm nay và ngày mai.

Hình ảnh người phụ nữ thuở xưa được đưa vào văn chương từ cái nhìn nghệ thuật mặc khách tao nhân.  Qua muôn đời họ đà nhận thức được những vất vả, cô đơn mênh mông vây toả, định mệnh người phụ nữ trong xã hội Nho Phong cổ kính Việt Nam. 

Em về thưa với mẹ thầy
Có cho anh cưới tháng này hay chưa.

Mặc bộ cánh đẹp để làm đẹp cho mình và cho đời trực diện định mệnh.  Chàng đã yêu nàng lắm, thốt nên lời lời cầu hôn.  Chờ đợi nàng thưa cùng mẹ cha …chờ đợi nàng yêu chàng…chờ đợi nàng thôi mơ mộng.  Cho dù lãng mạn là thế nhưng không vượt qua lễ giáo. 
Lời tỏ tình chân thật, mộc mạc làm xiêu lò ng người đẹp.  Thiếu chàng nàng sẽ bâng khuâng, sẽ thẫn thờ, sẽ mong ước được đọc những lá thơ thơm mùi giấy mới thơm mùi mực…và nàng đã thốt nên: 

Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu giải yếm cho chàng sang thăm 

Người phụ nữ trong thời tao loạn phải quẩy một gánh giang sơn nhà chồng, bổn phận làm dâu, bổn phận làm vợ, làm mẹ không được biết tới qua văn chương bác học nhưng chúng ta nhìn thấy nỗi vất vả, nỗi cô đơn, sự câm nín của người nữ qua những câu ca dao trong văn chương dân gian.   
Thời gian mơ mộng không dài là bao và thời gian hạnh phúc có lẽ ngắn ngủi lắm cho nên chưa có một dòng thơ  nào diễn tả được niềm hạnh phúc nhỏ nhoi mà cái cò đậu cọc kia mơ ước trong tuổi hồn nhiên.   Bức tranh cái cò đậu cọc bờ ao …mênh mông nỗi buồn nhưng không đậm nét bằng hình ảnh gian nan vất vả của cái cò khi làm vợ, làm mẹ. 

Con cò lặn lội bờ song
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng vê nuôi cái cùng con
Để anh đi chẩy nước non Cao Bằng

hoặc

Anh đi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn
Mẹ già em thương 

Nhà thơ Trần Tế Xương là người đưa hình ảnh cái cò vào văn chương bác học . 

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông... 

Màu yếm đào của thuở xuân chẳng còn dấu vết gì, cái sinh động một thời nay còn lại là hình ảnh héo hon gầy còm trong cả văn chương dân gian và văn chương bác học ( cho dù quá ít cũng phản ảnh được thân phận người nữ trong xã hội Việt Nam.)  

Cái cò đậu cọc bờ ao
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay
Em về thưa với mẹ thầy
Có cho anh cưới tháng này hay chưa 

Hai chữ …hay chưa …cho người đọc hiểu rằng cây si này là một anh chàng có học …cây si này có lẽ cũng là …một anh chàng …xe bồ luân dù chưa gặp thang văn.  Thi trượt trở về làng quê dạy học làm thầy đồ và có thời giờ làm thơ. 
Ít ra thì cũng có một nhà thơ nào đó,  một anh Cử anh Khóa nào đó, văn hay chữ tốt  không kém  Trần Tế Xương mới dám cả gan viết lên được bốn  câu thơ lục bát  tuyệt vời, một bức tranh đầy ấn tượng được truyền từ đời này qua đời khác.  It ra thì tác giả đã đưa được cái đẹp, niềm cô đơn, gánh nặng của người nữ Việt Nam vào văn học dân gian mà không cần ai biết tên tác giả.   Cái ngông của kẻ sĩ trong thời bút lông cực thịnh của quê nhà là thế và có lẽ nền văn chương dân gian ra đời là thế.   
Ít ra Trần Tế Xương đã đưa hình ảnh người bạn đời, hình ảnh người nữ, hình ảnh một con cò nhỏ bé, vào nền văn chương bác học qua bài Thương Vợ.  Ông là người đầu tiên viết về lòng yêu mến, biết ơn người vợ một nắng hai sương của mình.

Anh đi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn
Mẹ già em thương 

Một gánh nặng trên vai người nữ.  Chia xẻ gánh nặng để chồng đi chinh chiến. Hơn những người phụ nữ của một thời Nho Phong, người phụ nữ trong nửa thế kỷ vừa qua, không những  quảy một gánh  nặng trên vai, còn bị vùi dập, bị ngược đãi, bị khinh khi của tầng lớp cai trị trong chính quê hương Việt những năm tháng chồng bị lao tù cộng sản nơi sương lam chướng khí.  Trong thời gian này người phụ nữ Việt Nam phải sống vùng kinh tế mới với đói khát bệnh tật…đương đầu với những thảm cảnh hãi hùng trên đường tìm tự do trên đường bộ, trên đường biển với tử vong cao độ làm thức tỉnh lương tâm nhân loại. Tinh thần phấn đấu, chịu đựng, kiên nhẫn, hy sinh của người phụ nữ Việt đã nuôi con nên người tuy rằng những người chồng, người cha đã hy sinh ngoài mặt trận, chết trong lao tù cộng sản, hay trên biển đông. 

Cái cò đậu cọc bờ ao
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay

Hai giải yếm như cánh bướm bất tử trong lịch sử, trong văn học, định mệnh người phụ nữ Việt Nam, người phụ nữ Việt đã chia gánh nặng với chồng từ ngày lập quốc.  Ngoài Trưng Triệu còn bao nhiêu người phụ nữ khác trong bóng mờ với sự hy sinh không tưởng, với lòng nhẫn nại vô biên của mẹ, linh hồn những giải yếm bay trong gió đã và đang ôm ấp một Việt Nam. 
Hình ảnh người nữ trong thi ca vẫn là nét đẹp.  Một nét đẹp còn ở mãi trong tâm hồn chúng ta những người yêu con chữ quê hương; cho dù chúng ta đang sống trong thời đại vi tính với mạng, với net, với facebook, với twitter nhưng chưa ai làm thơ hay vẽ được bức tranh tuyệt vời : nét đẹp của người phụ nữ và cái định mệnh.

Cái cò đậu cọc bờ ao
Phất phơ hai giải yếm đào gió bay 

Biểu tượng hay định mệnh nào ai khẳng định.  Thay cho cây cọ, gam màu là những con chữ dân gian thường dùng, những câu thơ lục bát đã vẽ một bức tranh tuyệt vời về người phụ nữ Việt qua hình ảnh gần gụi nhất trong cảnh thôn quê… cái cò, con cò…bờ ao … Thơ lục bát  trong ca dao trở thành lời ru của mẹ qua những thăng trầm của đời mẹ, của quê hương.   

Thu Hương Seattle

TẢN MẠN VỀ TỪ HÁN VIỆT: NHỮNG THÀNH KIẾN HÓA THẠCH VỀ PHÁI NỮ QUA CHỮ VIẾT (BỘ NỮ)

Những thành kiến hoá thạch' về phái nữ qua chữ viết (bộ nữ)

Nếu chúng ta chỉ nghe đọc hay viết các chữ đẹp hay mỹ (mỹ nhân - người đẹp, mỹ cảnh - cảnh đẹp) theo mẫu tự La Tinh thì không thấy vết tích hay nhận ra phái nữ hay phái nam; tuy nhiên khi viết chữ Hán liên hệ ra thì tình hình lại khác hẳn: các chữ Hán trên ngàn năm nay đã mang trong đó một thành kiến xem thường phái nữ (thành kiến hoá thạch - fossilised prejudice). Tiếng Việt có tiếng cái, một dạng chữ Nôm dùng cái
丐 cho gái và cái, chỉ giống cái và sự lớn hơn hết (đường cái).

Khuynh hướng chỉ vật thể lớn nhất (cửa cái, ngón cái) trong tiếng Việt cùng với phái nữ (con dại cái mang, cọp cái) rất khác với khuynh hướng chỉ sự đẹp trong tiếng Hán dựa vào bộ nữ 女 . Ít người biết rằng các từ như nô (lệ), tham lam, ganh ghét, đố kỵ, hiềm nghi, dâm (dật), gian (tà), dấu (diếm), lười (biếng), nịnh (hót) … đã từng được ‘liên kết’ đến phụ nữ qua các chữ Hán truyền thống. Bài viết này sẽ đưa ra một số dữ kiện ngôn ngữ cho thấy ‘thiên kiến’ về phái nữ đã hoá thạch trong tiếng Hán. Giọng Bắc Kinh/BK sẽ được ghi bằng hệ thống pinyin thông dụng hiện nay, không nên lầm số ghi thanh điệu với số ghi phụ chú - như số 1 - đặt sau một âm hay chữ như jian1/ jiān so với ngày1 . Vấn đề kỳ thị giới tính thật ra không đơn giản: một trường hợp đáng ghi nhận ở đây là bà Hillary Rodham (một luật sư tranh đấu cho nữ quyền), sau khi lấy Bill Clinton (cựu Tổng Thống Mỹ thứ 42, 1993-2001) không theo truyền thống đổi tên thành Hillary Rodham Clinton và sau đó cũng trở thành Hillary Clinton (đương kiêm Ngoại Trưởng Mỹ/2012).



1. Giới thiệu tổng quát



Tiếng nói con người phản ánh phần nào văn hoá cộng đồng, do đó trong một ngôn ngữ hầu như ta luôn tìm thấy phần nào ảnh hưởng của giới tính cũng như các vết tích của xã hội truyền thống. Tiếng Anh có các cách dùng manpower (nhân lực), mankind (con người, nhân loại),  postman/mailman (người đưa thư, nhưng lại dùng man là đàn ông), chairman (tổng giám đốc, cũng dùng danh từ man) hay the man in the street (người ngoài đường/người dân bình thường, cũng dùng danh từ giống đực man), policeman (cảnh sát), Congressman (dân biểu quốc hội), statesman (chính khách, nhà chính trị/chính trị gia) ... đều cho thấy sự phân biệt giới tính trong ngôn ngữ hàng ngày1; nói cách khác là có khuynh hướng đặt phái nam trên hết. Tiếng Pháp cũng có các từ  (le) docteur (bác sĩ, giống đực/masculin),  (le) professeur (giáo sư, cũng là giống đực) ... như vậy có phải các ngành nghề này chỉ dành cho đàn ông hay đàn bà không làm được hay sao? Còn nếu muốn chỉ đàn bà thì có thể đổi docteur thành (la) docteuse, và (la) professeuse ... So với cách thành lập từ chỉ phụ nữ trong tiếng Anh như



Prince (hoàng tử)                      princess (công chúa)

Author (tác giả)                         authoress (nữ tác giả)

Actor (nam diễn viên)     actress (nữ diễn viên)

Poet (nam/thi sĩ)                        poetess (nữ thi sĩ)

Hero (nam/anh hùng)     heroine (nữ anh hùng)

Host (nam/chủ nhà/chủ sự)        hostess (nữ chủ sự)

Heir (người thừa kế)                  heiress (người phụ nữ thừa kế)

...v.v...



Thành ra cần phải có những hình vị (morpheme) đặc biệt để chỉ phụ nữ hay từ kép (ghép, compound) như trong tiếng Việt - để ý là chủ nhà, chủ sự, thi sĩ ... thường hàm ý đàn ông thay vì đàn bà. Đây chính là ‘hiện tượng không cân xứng’ (asymmetry) trong các từ dùng chỉ đàn ông so với đàn bà vì chữ chỉ đàn ông phải thêm vào hay thay đổi để chỉ đàn bà (đi sau, hàm ý phụ thuộc hay không là thành phần chính quy). Thí dụ như các cụm danh từ nữ anh hùng 女英雄, nữ thi sĩ 女詩人 (nữ thi nhân), nữ diễn viên 女演員 ...  thì tiếng Việt và tiếng Hán phải ghép chữ nữ vào trước các danh từ chính (hàm ý phái nam có trước). Đây là một trong những lý do mà một số vị ủng hộ thuyết nam nữ bình quyền (feminist) không hài lòng cho lắm về hiện tượng dùng ngôn ngữ nói trên (không cân xứng, xem trọng phái nam so với phái nữ ...). Sự mất cân xứng còn thể hiện khi nhìn rộng ra xem các cách nói chuyện thường ngày như Bà Trọng (gọi theo tên chồng), Cô (vì chồng dạy học, là Thầy), Bà Đạt (Đạt là tên con trai lớn) ... Tương ứng với cách xưng hô Mrs. Brown (Bà Brown, Brown là tên chồng) trong tiếng Anh, không những thế họ của người phụ nữ khi lấy chồng cũng phải đổi theo họ chồng



Con gái là con người ta

Con dâu mới thật mẹ cha mua về            (ca dao Việt Nam)



Thứ tự chữ (word order) cũng thường đặt phái nam trước như



Phụ mẫu   父 母            cha mẹ2

Nam nữ    男女              trai gái

Phu thê    夫 妻             chồng vợ

...v.v...



Còn nhiều vấn đề liên hệ như tư tưởng của Khổng học và mức độ thâm nhập của các truyền thống phong kiến như tam tòng tứ đức 三从四德 ... xác định ‘nhiệm vụ’ của phái nữ trong xã hội. Thành ngữ (Hán Việt) trong dân gian cũng nói lên phần nào vai trò truyền thống của phái nữ như nam canh nữ chức (đàn ông thì làm việc ngoài đồng ruộng, đàn bà thì thêu thùa may vá) hay nam ngoại nữ nội ... Câu nói gả con cho ai (tự điển Việt Bồ La/1651) thì thường chỉ con gái ‘theo về’ nhà chồng ... Ngay cả những nhận định khắc nghiệt về giá trị xã hội như nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô (một trai thì nói có, mười gái thì nói không) ... Tuy nhiên bài này chỉ giới hạn vào cấu trúc của một số chữ Hán đáng chú ý mà thôi.



2. Các chữ Hán dùng bộ nữ



2.1 Chữ/bộ nữ 女



Nữ là con gái, cũng là một bộ thủ (bộ 38) trong 214 bộ thủ chữ Hán. Đây là trường hợp đáng xem xét kỹ hơn vì trong các bộ thủ ngày trước chỉ có bộ nữ chứ không có3 bộ nam 男, thêm một dữ kiện về ‘hiện tượng không cân xứng’ trong ngôn ngữ. Giáp cốt văn cho thấy chữ nữ tượng hình, hình của người đàn bà ngồi quỳ (kiểu ngồi xưa) với hai tay để trước ngực:





CharacterEtymology.aspx?submitButton1=

Etymology&characterInput=%E5%A5%B3  

các chữ Hán cổ sau trích từ tự điển trên mạng 

http://www.zdic.net/zd/zi/ZdicE5ZdicA5ZdicB3.htm






Nếu hai chữ nữ  女 hợp với nhau (ngang nhau)  奻  thì thành một chữ mới là noạn (nuán hay nuan2 BK) nghĩa là cãi nhau (tranh tụng), đây là chữ hiếm với tần số dùng là 16 trên 171894734 - các tần số dùng/tần suất trích dẫn trong bài này là từ thống kê trang


dictionaries/?pageID=CharDict/Query:Pinyin.



Nếu ba chữ nữ hợp lại thì thành chữ gian 姦 (ác tà, jiān/jian1 BK) với tần số dùng là 2173 trên 175203003; một chữ dùng tương đương là 奸 dễ nhận ra hơn với thành phần hài thanh là *gan/kan 干 - chữ này rất thông dụng với tần số dùng là 25547 trên 434717750 .






Chữ gian  姦 có lâu đời hơn chữ gian 奸(giản thể), tuy nhiên hàm ý (tà, gian ác) của chữ này khá rõ nét khi ba người nữ họp (ngồi) với nhau!








Để ý nếu hai chữ nữ hợp lại (trên dưới)    
 


   thì lại có nghĩa là đẹp hay yêu 妖 (quái lạ/TV). Để diễn tả hình dáng đẹp, khuynh hướng dùng bộ nữ (phái đẹp)4  để tạo ra chữ mới rất rõ nét trong vốn từ Hán - như tự điển Khang Hy có khoảng 90 chữ khác nhau cùng nghĩa là đẹp như 嫵 (vũ, cũng như 娬) 嫣 (yên) 媚 (mị) 姣 (giảo) 姚 (diêu)  妖 (yêu) 姱 (khoa) 娥 (nga) 婉 (uyển) 媛 (viện) 嬋 (thiền) 妍 (nghiên, cũng như 姸) 嬿 (yến) 嬈 (nhiêu) 娟 (quyên) ...v.v... Đây là các chữ lấy từ Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, có khoảng 15 chữ nghĩa là đẹp (xinh) so với 148 chữ trong bộ nữ, hay là khoảng trên 10% rất phù hợp với số phần trăm số chữ với nghĩa là đẹp trong tự điển Khang Hy (tổng số chữ trong bộ nữ là 866, do đó 90/866 = 10.4%). Tiếng Việt phân biệt các trường hợp đẹp trai, đẹp gái và khi có tuổi thì là đẹp lão.



2.2 Tham 㜗



Chữ hiếm tham 㜗 (Unicode 3717) đọc là 倉含切 thương hàm thiết, âm tham (theo Tập Vận/TV), giọng BK là căn - thành phần hài thanh/HT là 參 (tham, xam, sâm). Tham là ham muốn, theo Thuyết Văn Giải Tự/TVGT là cùng nghĩa với lam 婪, cũng thường dùng chung là tham lam. Chữ tham 貪 bộ bối thường dùng hơn so với tham bộ nữ.



2.3 Lam 婪



Lam nghĩa là ham muốn, lam hàm 婪酣 là tham ăn. Thành phần HT là lâm 林.



2.4 Lạm 㜮



Lạm 㜮 là chữ hiếm (Unicode 372E), hàm ý quá độ, quá mức (một cách sai trái) như lạm dụng, lạm quyền, lạm phát ... chữ lạm 濫 bộ thuỷ thường dùng hơn, thành phần HT là giam/giám 監. Theo Quảng Vận/QV, Tập Vận thì hai chữ lạm 㜮  濫 dùng tương đương.



2.5 Dâm 婬



Dùng như dâm bộ thuỷ 淫, như trong các cách dùng gian dâm, tà dâm, dâm dật, dâm dục, dâm nhạc, dâm thư ... Thành phần HT là 㸒 : dâm, chữ hiếm, ta thấy âm nhâm/dâm 壬 hài thanh ngay trong chữ này rồi. Kinh điển xưa thường dùng dâm 婬 như dâm 淫



朱骏声曰:“小尔雅广义:‘上淫曰婬,下淫曰报,旁淫曰通。

Chu Tuấn Thanh viết: “Tiểu Nhĩ Nhã Quảng Nghĩa:‘thượng dâm viết dâm,hạ dâm viết báo,bàng dâm viết thông



2.6 Lãn 嬾



Lãn là lười biếng, như trong cách dùng lãn công... Lãn bộ nữ là chữ hiếm có tần số dùng là 21 trên 171894734, bộ nữ còn có thể thay bằng bộ tâm 懶 thông dụng hơn với tần số dùng là 16583 trên 175865108. Thành phần HT là lại 賴 (lời). Tiếng Việt còn duy trì âm cổ hơn của lãn là lười. Một dạng tương đương của lãn 嬾 là 孄 (TV).



2.7 Đố 妒



Đố kị 妒忌 (ghen ghét) - đố còn viết là 妬. Thành phần HT thạch 石 : tiếng Việt còn duy trì một dạng âm cổ là đá so với âm đố (當故切 đương cố thiết/QV). Có nhiều chữ Hán dùng bộ nữ để chỉ sự ghen ghét, ganh tị ... Xem thêm các chữ liệt kê bên dưới.



【詩註】以色曰妒,以行曰忌

[Thi - Chú] dĩ sắc viết đố, dĩ hành viết kị



2.8 Tật 嫉



Tật là ghen ghét, đố kị, giận ... Thành phần hài thanh là chữ tật 疾 (ốm, bệnh).



2.9 Mạo 媢



Mạo là ghen ghét. Thành phần HT là mạo 冒, Vương Sung trong Luận Hành viết



妒夫媢婦 đố phu mạo phụ



2.10 Áo 㜩



Chữ hiếm áo (Unicode 3729) là ghen ghét, đố kị ... Thành phần HT là áo - âm áo 音奧 (TV). Chữ này hiện diện từ thời Tập Vận (năm 1037/1067), phản ánh phần nào tâm lí của đầu thiên niên kỷ II (và còn có thể cho đến ngày hôm nay) ỏ Trung Quốc, hay thành kiến về phái nữ, thêm bộ nữ vào chữ áo/úc 奧 để tạo ra chữ mới hàm nghĩa không tốt là ghen tị .



2.11 Thứ 㜘



Thứ (Unicode 3718) cùng nghĩa với đố 妒 (Bác Nhã/BN). Thứ còn có nghĩa là kiêu (ngạo) 驕 theo học giả Đoạn Ngọc Tài:  驕俗本作嬌 kiêu tục bản tác kiều.                                                



2.12 Súc 㜅



Súc (Unicode 3705) có nghĩa là đẹp, nịnh và ghen ghét ... Thành phần HT là súc 畜. Súc 畜 là nuôi (dưỡng), thú vật trong nhà (lục súc 六 畜) hay còn có nghĩa  là tốt đẹp (好 hảo), nhưng khi thêm bộ nữ vào thì bắt đầu có những nghĩa không tốt như nịnh, ghen ghét ...



2.13 Giới 妎



Giới là đố kị (theo TVGT), phản phúc (Nhĩ Nhã/NN) - thành phần HT là giới 介. Nhĩ Nhã (Thích cổ) cũng ghi 苛,妎也 hà, giới dã - hà là ghen ghét, trách phạt, quấy nhiễu ...



2.14 Hiềm 嫌



Hiềm là ngờ vực, nghi ngờ ... thường dùng chung với nghi 嫌疑 (hiềm nghi). Hiềm cũng là khiểm 慊 (TV). Thành phần HT là kiêm 兼 (gồm, gom, gôm). Một số chữ Hán diễn tả tình cảm, trạng thái, thái độ ... có thể thay bộ nữ bằng bộ tâm như chữ lãn, hiềm chẳng hạn. Có tác giả cho rằng phái nữ thường bộc lộ tình cảm nhiều hơn phái nam nên mới có khả năng hoán chuyển bộ nữ và tâm như vậy (xem thêm các chữ lãn, mạn, tiều ...); để ý mạo bộ nữ 媢 là ghen ghét (kị, giận), còn mạo bộ tâm 𢝌 (hay 𢛡) là tham lam.



2.15 Vọng hay vong 妄



Vọng là xằng, càn, không đúng sự thật - vọng ngữ (nói bậy) ... Còn dùng như vô 無 (TV). Thuyết Văn ghi vọng là  亂也 loạn dã. Thành phần HT là vong 亡



2.16 Nô 奴



Xưa chỉ người phạm tội (tội nhân) bị bắt làm tạp dịch không phân biệt giới tính; các cách dùng thường gặp là gia nô, hung nô, nô lệ ... Nữ nô 女奴 là con gái làm nô lệ (slave girl). Đầy tớ, người làm (phụ việc, nô tì) ‘thường’ chỉ phụ nữ. Theo TVGT:



奴、婢,皆古之辠人也  Nô, tì, giai cổ chi tội nhân dã














Giáp cốt văn - hình cho thấy một bàn tay nắm chặt một người phụ nữ, hàm ý bắt làm nô lệ





2.17 Tì 婢



Tì là con đòi, người hầu gái - cách xưng khiêm nhượng của phụ nữ ngày xưa: 婢子 tì tử, thường dùng trong Kinh Lễ và Tả Truyện. Thành phần HT của tì là ti 卑, nghĩa là thấp hèn, đê tiện, khinh thường ... Ti nhân  卑人, tiện nhân 賤人 (kẻ hèn này) là những cách xưng hô nhún nhường.



2.18 Mị 媚



Mị là nịnh bợ, chìu theo như mị nhân (làm người ta xiêu lòng), mị dân ... Mị còn có nghĩa là đẹp, dễ thương, hấp dẫn - đây là nghĩa nguyên thuỷ (theo Từ Nguyên5) - sau này mới thêm vào nghĩa nịnh hót (châm biếm). Thành phần HT là my 眉 (lông mi, mày).



2.19 Hạm 𡣊



Hạm là chữ hiếm (Unicode 218CA, hàn BK), hàm ý tính nết ác độc (QV) - còn viết là 𡣔 (Unicode 218D4). Chữ hiếm hạm xuất hiện từ thời Long Kham Thủ Giám (năm 997) và Quảng Vận (năm 1008) phản ánh phần nào tâm lí ở Trung (Quốc) vào đầu thiên niên kỷ II.



2.20 Tiết 媟



Tiết là ô uế, dơ bẩn, nham nhở (tính từ) hay khinh thường (động từ, TVGT). Thành phần HT là chữ hiếm 枼 (diệp, tiệp) nghĩa theo TVGT là bạc 薄 (mỏng, nhạt, coi khinh).



2.21 Phanh 姘



Phanh, pīn BK, là ăn ở (trai gái) vụn trộm ... Phanh cư 姘居 ăn ở với nhau như vợ chồng (không cưới hỏi chính thức). Thành phần HT là tinh/tịnh 并 (滂丁切 bàng đinh thiết/TV - bìng BK)



男女私合曰姘 -《苍颉篇》

Nam nữ tư hợp viết phanh - <Thương Hiệt Thiên>



2.22 Yển 匽



Yển (yăn BK) là dấu diếm, trốn tránh - 匿也 nặc dã (TVGT), âm (đọc như) yển 偃 (nép, nằm xuống). Thành phần HT là yến 妟, chữ này cũng dùng như yến 晏 cũng như an (yên).



2.23 Xướng 娼



Xướng là con hát (kĩ nữ) - cũng như xướng bộ nhân 倡; thành phần HT là xương 昌 (sáng sủa, thịnh vượng) - xem thêm mục 2.24, 2.25. Một điểm đáng chú ý là chữ xướng bộ nữ 娼 có mặt sau chữ xướng bộ nhân 倡, như có trong Ngọc Thiên (năm 543 SCN), Tập Vận ...



2.24 Kĩ 妓



Thành phần HT là 支 chi, kĩ là nữ nhạc sĩ (女樂), sau này cũng có nghĩa là đĩ6, gái mại dâm - cùng nghĩa với xướng 娼 hay 倡. Để ý chữ hàng 䘕 (Unicode 4615, hiện diện trong Tự Vị/1615, Khang Hy/1716 ...)  cũng vừa chỉ nhạc sĩ và kĩ nữ (gái mại dâm).



2.25 Biểu 婊



Biểu 婊 chỉ tên đàn bà, biểu tử 婊子 hay 表子 nghĩa là kĩ nữ (gái điếm). Thành phần HT là biểu 表 (mặt ngoài, bên ngoài, áo ngoài ...); biểu tử hàm ý ở ngoài (ngoại thất 外室) so với trường hợp của vợ chính thức - xem thêm chữ an 2.36



2.26 Phương 妨



Phương là gây trở ngại, làm hại - 害也 hại dã (TVGT) ... Như trong cách dùng phường hại (phương hại). Thành phần HT là phương 方, cũng có nghĩa là thương 傷 (thương đau).



2.27 Ban 媻



Ban hay bạn 媻 là chữ hiếm (Unicode 5ABB), có các nghĩa là xa (xa xỉ - 奢也 xa dã/TVGT), quá đáng, bà, vợ lẽ … Thành phần HT là ban/bát 般



2.28 Ngu 娛



Ngu là niềm vui, thú vị ... Theo TVGT là 樂也 lạc dã. Chữ này có hàm ý phụ nữ là nguồn vui sướng (trò chơi) của người khác (phái nam)? Thành phần HT là ngô 吳 (hay 吴).



2.29 Nịnh 佞



Nịnh là tâng bốc, nói khéo để người ta thích ... Chữ này theo TVGT là gồm chữ nữ và chữ tín viết tắt (从女信省) - thí dụ như nịnh nhân, nịnh thần ...



2.30 Mạn 嫚



Mạn bộ nữ (Unicode 6162) là khinh nhờn, coi thường (td. ngạo mạn) - dùng như mạn bộ tâm 慢. Thành phần HT là man/mạn 曼.



2.31 Tiều 嫶



Tiều là chữ hiếm (Unicode 5AF6) nghĩa là hốc hác, tiều tuỵ 憔悴, dùng như tiều bộ tâm 憔. Thành phần HT là tiều/tiêu 焦 (lo buồn, cháy sém ...). Chữ tiều bộ nữ có mặt thời Tập Vận (năm 1037/1067) và dùng như chữ tiều bộ tâm (hiện diện trước đó rất lâu, như thời Thuyết Văn Giải Tự đã có ghi lại) cho thấy khoảng đầu Thiên Niên Kỷ II có sự thay đổi về tư tưởng (Tống Nho) đối với nữ giới; xem thêm chữ Hạm.



2.32 Hộ 𡤬 hay 嬳



Các chữ hiếm hộ 𡤬 (Unicode 2192C) hay 嬳 (Unicode 5B33)có nghĩa là tiếc như trong các cách dùng thương tiếc, tiếc của, tiếc công ... Thành phần HT là quắc 矍 (sợ). Tiếc tiếng Việt là một dạng biến âm của tích 惜, chữ này thông dụng hơn.



2.33 Yêu 妖



Yêu là đẹp (lẳng lơ), hay còn chỉ loài ma quái có phép mê hoặc và hại người (yêu quái 妖怪). Thành phần HT là yêu 夭 (xinh đẹp, tai vạ, chết non/yểu), theo TVGT, yêu còn có dạng là 𡝩,巧也 (yêu, xảo dã). Nghĩa cổ nhất của yêu là diễm lệ 豔麗, vũ mi 嫵媚 - theo Từ Nguyên5 sau này mới thêm nghĩa quái dị (tiêu cực).



2.34 Niễu 嬲



Niễu/điểu/niểu là trên ghẹo, quấy rầy (theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu/1942, và của Nguyễn Văn Khôn/1960). Tuy nhiên theo Quảng Vận 嬲 đọc là 奴鳥切, 音嬈 nô điểu thiết, âm nhiêu (ngạc hoá).



2.35 Vô/mưu 毋



Vô là chớ, đừng, không, chẳng (cũng như vô 無). Tiếng Việt còn duy trì một âm cổ là mựa7  (như mựa nói dối - tự điển Việt Bồ La/1651). Theo TVGT chữ 毋 cho thấy hình người đàn bà bị xiềng (xích) vì làm điều sai trái (gian) - nên hàm ý là chớ/đừng phạm tội lần nữa! Ngoài nghĩa phủ định, vô/mưu còn là bộ thủ thứ 80 trong 214 bộ thủ.


Tiểu triện -  chữ vô
2.36 An 安


An là yên (ổn), bình an ... Đây là loại chữ tượng hình, từ giáp cốt văn có thể thấy hình của một người phụ nữ đang ngồi (quỳ) trong phòng. Có thể hiểu là người phụ nữ bình an trong phòng, hay một nghĩa thông thường hơn là tình trạng yên ổn là kết quả khi người phụ nữ ở trong nhà!


Qua các hình khắc/vẽ cổ đại của chữ an trên, ta không ngạc nhiên khi vợ (thê 妻) còn gọi là  Nội Tử 内子, Nội Nhân 内人 , Nội Trợ 内助, Hiền Nội Trợ 賢內助, Chuyết Nội 拙內, Chuyết Kinh8  拙荊, Kinh Thất  荊室, Kinh Phụ 荊婦, Tiện nội 賤內, Tao Khang 糟糠...v.v... Và người vợ cũng có thể lên chức tướng, nhưng cũng chỉ là nội tướng9  内相 mà thôi.
Phần này không ghi nhận các chữ Hán có dùng chữ nữ trong thành phần HT với nghĩa tiêu cực như nộ 怒 (giận dữ), nỗi 餒 (đói), nao 呶 (ồn ào), thê 悽 (đau buồn), hảo 恏 (Unicode 604F, bộ tâm hợp với chữ hảo 好, nghĩa là ham muốn/dục 慾) ...v.v...



3. Kết luận tạm thời


Truyền thống lâu đời của chữ Hán đã cho ta nhiều thông tin thú vị về văn hoá tư tưởng của người xưa. Tuy đa phần liên hệ trực tiếp đến xã hội Trung Quốc cổ đại nhưng vẫn hàm chứa những giao lưu văn hoá ngôn ngữ với các dân tộc chung quanh (như tên gọi 12 con giáp). Phân tách cấu tạo và quá trình biến đổi chữ Hán qua thư tịch cổ như bộ thủ ‘nữ’ cho thấy những thành kiến tiêu cực - như cho rằng phụ nữ có khả năng kém hơn hay chỉ phụ thuộc vào phái nam, mang những tính hay tật xấu của con người - mà vẫn còn vết tích cho đến ngày nay. Hiện tượng kỳ thị giới tính qua ngôn ngữ cũng hiện diện khi xem qua các ngôn ngữ khác (không liên hệ họ hàng với tiếng Hán) trên thế giới. Quán tính của chữ viết (td. chữ Hán) là một khía cạnh đặc biệt cho ta thấy rõ hơn văn hoá tư tưởng của những thời kỳ trước. Hi vọng bài viết nhỏ này là một động lực khuyến khích các bạn quan tâm đến tiếng Việt, tra cứu và tìm tòi thêm để thấy các tính chất phong phú của ngôn ngữ chúng ta, so với các ngôn ngữ láng giềng trong quá trình giao lưu và hình thành tiếng Việt hiện đại. Hiểu rõ các thành kiến (đặc biệt là kỳ thị phái nữ) đã có từ ngàn xưa - nhiều khi chính chúng ta cũng không ý thức được10 qua quá trình xử lý ngôn ngữ (trong tiềm thức) - thì ta có thể tạo cơ hội cho mọi giới tính đóng góp vào phát triển của Việt Nam trong thế giới hiện đại, một công việc cần nhiều nỗ lực đến từ mọi phía.



4. Phụ chú và phê bình thêm



Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác. Bạn đọc nào thấy thích thú về chủ đề này nên tham khảo một số bài viết liên hệ đến khuynh hướng phân biệt giới tính trong tiếng Trung (Quốc) sau đây - để ý mục tham khảo tài liệu (References) của các bài viết này ghi nhận nhiều bài và sách rất đáng tra cứu thêm để thêm phần chính xác và phong phú:



"Covert Sexism in Mandarin Chinese" (tạm dịch: Sự kỳ thị ngấm ngầm trong tiếng Quan Thoại) - tác giả David Moser đăng trong Sino-Platonic Papers - Number 74 - January 1997. Có thể đọc trên mạng như trang này




"Gender and Sexism in Chinese language and literature" - tác giả Angela

Jung-Palandri đăng trong Sino-Platonic Papers, Number 27 August 1991. Có thể đọc trên mạng như trang này  


"Language and Woman's Place" - sách soạn bởi tác giả Robin Lakoff, tiên phong trong các khảo cứu về các vấn đề kỳ thị phụ nữ trong ngôn ngữ, NXB Harper & Row (New York, 1975). Sau các khảo cứu này, hàng loạt các khảo cứu khác đã xuất hiện bao gồm phân tách ngôn ngữ khác biệt giữa phái nam và phái nữ, cách dùng chữ, phương ngữ ... và so sánh với các ngôn ngữ khác trên thế giới.



"Gender-specific Asymmetries in Chinese Language" - tác giả Yan XiaoPing (1/2008) - bài viết cho thấy các mức độ kỳ thị giới tính (phụ nữ) rất ‘thâm trầm’ và rất khó phát hiện trong tiếng Trung (Quốc) hiện đại. Các cách dùng (ngôn ngữ) này có ảnh hưởng tiêu cực đến đóng góp thực sự của phái nữ trong xã hội. Có thể đọc toàn bài trên mạng




"Sexism in Language" - tác giả XiaoLan Lei (Northwest Polytechnic University, Xi’an, China), Journal of Language and Linguistics - Volume 5 Number 1 (2006)ISSN 1475 – 8989. Trong phần kết luận, tác giả ghi lại nhận xét của Rosalie Maggio (1989, tạm dịch từ tiếng Anh): '... Điều cần phải nhận biết là không thể có giải pháp về kỳ thị giới tính chỉ qua phương tiện ngôn ngữ: như nếu thay đổi chữ secretary/thư ký thì cũng chẳng thay đổi được sự kiện là 1.6 phần trăm thư ký ở Mỹ là phái nam, đổi director (ông tổng giám đốc) thành directress (bà tổng giám đốc) không có nghĩa là phái nữ có nhiều cơ hội hơn phái nam ngày nay ...'. Có thể đọc toàn bài trên mạng http://www.jllonline.co.uk/journal/5_1/5LingLei.pdf



Trong bài viết "Sexist Chinese Characters Discriminate Against Women" (tạm dịch: chữ Hán kỳ thị phụ nữ), được Zoe đăng lên mạng (một nhà báo đang ở Bắc Kinh) cho rằng nếu đổi cách viết chữ gian 姦 hay 奸 (hiếp dâm/rape, hay 強姦 cưỡng gian) thành ra 犭行 (bộ khuyển thay vì bộ nữ và chữ hành - ám chỉ hiếp dâm là một hành vi đê tiện của các loài súc vật), thì có thể giảm số tội phạm hiếp dâm xuống được 20 phần trăm: xem toàn bài viết (28/2/2010) và các trao đổi trang này



http://www.chinasmack.com/2010/stories/sexist-chinese-characters-discriminate-against-women.html



Bạn đọc có thể xem thêm các bài viết của GS Nguyễn Văn Khang về hiện tượng kỳ thị giới tính như trang


xa-hoi-hoc-ngon-ngu-ve-gioi-

su-ki-thi-va-su-chong-ki-thi-doi-voi-nu-gioi-trong-su-dung-ngon

hay cuốn "Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ", tác giả Trần Xuân Điệp (NXB Đại Học Sư Phạm, 2005).



1) vì thế mà bây giờ tiếng Anh thường dùng postal worker thay vì mailman (người phát thơ),  chairperson thay vì chairman (tổng giám đốc) để tránh phân biệt giới tính: person là người (đàn ông hay đàn bà) so với man chỉ đàn ông.



2) tiếng Việt cũng có thể dùng thứ tự ngược lại: mẹ cha, vợ chồng, gái trai ... Tiếng Chăm cũng còn các cách dùng amak amu (mẹ cha), kamei likei (gái trai) ... phản ánh chế độ mẫu hệ truyền thống - xem thêm chi tiết bài viết của GS Lê Khắc Cường trang http://business9x.blogspot.com.au/2012/04/

van-e-gioi-trong-tieng-viet.html

3) thật ra, Thuyết Văn Giải Tự liệt kê 540 bộ thủ và có bộ nam 男 và bộ nữ



4) đương nhiên cũng có các chữ Hán dùng bộ nữ nghĩa là xấu (hình dáng) như chữ xuy 媸, khi 娸 (xấu, ác tính), mô 嫫 (嫫母 Mô Mẫu, thứ phi của Hoàng Đế nổi tiếng là xấu)... Tuy nhiên số chữ (hàm ý xấu tướng) này khá ít so với số chữ Hán dùng bộ nữ nghĩa đẹp/xinh.



5) "Từ Nguyên" Thương Vụ Ấn Thư Quán - 2004 (Bắc Kinh)



6) Đĩ chữ Nôm viết bằng kĩ 妓 như trong Dương Từ Hà Mậu (Nguyễn Đình Chiểu), Vị Thành Giai Cú Tập Biên (Trần Tế Xương), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (Paulus Của) ... Hay bằng thanh phù để 底 hợp với bộ nữ (tự điển Taberd/Pigneau de Béhaine), hay bằng thanh phù địa  地 hợp với bộ nữ (Nguyễn Khuyến) ... Đây có thể là cách đọc của đa 多 (âm Mân Việt/Triều Châu) như đa 爹 là tía, và một dạng của kĩ là *đi/ti (âm Mân Việt) 姼, so với chữ Nôm đi viết bằng đa 多, đi so với di 移 (hay chữ hiếm 迻...). Đây là một chủ đề rất thú vị, không nằm trong phạm vi bài viết nhỏ này, phản ánh giao lưu ngôn ngữ của các giọng địa phương thời cổ đại và giải thích tại sao một số âm đọc trong tiếng Việt (vẫn bảo lưu âm cổ) rất khác với âm Hán Việt (chính thống).



7) so sánh múa vũ, mùa vụ, mù vụ (sương), Mùi Vị (chi thứ 8), mùi vị, mong vọng, muôn/man vạn, muộn vãn ... mựa vô ...v.v...



8) điển tích: thời Đông Hán có vợ thư sinh Lương Hồng nhà nghèo nên lấy cành cây kinh đeo làm hoa/trâm, do đó người sau gọi vợ là Kinh (Chuyết Kinh, Kinh Thất, Kinh Phụ ...)



9) Nội Tướng 内相 từng là một chức quan trong triều đình (nhà Đường), cũng như chỉ các thái giám, so với tiếng Việt nhà tôi có thể dùng cho vợ hay chồng. Tiếng Trung (Quốc) lại có khuynh hướng dùng gia 家 (nhà) chỉ người vợ (so với chồng); cũng như các chữ thất 室 (nhà, phòng), phòng 房 (buồng, nhà) đều ám chỉ người vợ.



10) thí dụ một như bài viết "Doanh nhân Việt - anh là ai?" - xem trang này 

http://vietbao.vn/Kinh-te/Doanh-nhan-Viet-anh-la-ai/40050916/87/  (2004). Trường hợp này có thể đổi đầu đề thành "Doanh nhân Việt - bạn là ai?" thì không phân biệt giới tính (PBGT) và thành kiến về phái nữ (gián tiếp) cũng không thể hiện. Cách đây 1 năm, trên báo Giáo Dục Việt Nam có đăng bài viết "Doanh nhân số 1 Việt Nam, anh là ai?" (17/5/2011) - xem chi tiết trang này  http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/

giaoduc.net.vn/Doanh-nhan-so-1-

Viet-Nam-anh-la-ai/6268189.epi.

Năm nay (2012), ta vẫn thấy các bài viết tương tự như "Giám đốc kinh doanh giỏi: Anh là ai?" (9/2/2012) - xem chi tiết trang này

http://vneconomy.vn/20120206094743633P5C9938/giam-doc-kinh-doanh-gioi-anh-la-ai.htm ; điều này cho thấy hiện tượng PBGT đã nằm sâu trong tiềm thức và một sự thay đổi (thành kiến) đòi hỏi nhiều nỗ lực từ nhà trường đến công sở, báo chí…



NGUYỄN CUNG THÔNG