.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Thursday, February 2, 2012

NHÀ THƠ VĂN CÔNG HÙNG VÀ KUNG FU “ĂN THỊT ĐỒNG LOẠI” TRÊN NGHỆ THUẬT MỚI



"NHẬU" NGUYỄN NGỌC TƯ


Mình đang trên xe từ Hà Nội xuống Quảng Ninh, em Nguyễn Phan Quế Mai ngồi hàng dưới khen bài "Nhậu NNT" viết công phu in trên NTM hôm qua Nguyễn Quang Thiều đã mang đến chỗ Phan Hoàng giới thiệu sách mới. Báo 2 màu mà sang và có gu lắm. Bài này ém mãi, giờ báo ra mới mang mời bạn đọc.
_____________________
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

          Thú thật là trước khi bay từ Sài Gòn xuống Cà Mau, tôi không có ý định và cũng không nghĩ mình sẽ gặp Nguyễn Ngọc Tư. Phần vì biết Tư dạo này làm báo rất bận, chắc gì đang ở Cà Mau, phần vì vẫn cấn cái cái vụ phỏng vấn Tư cho tờ Văn học và Tuổi trẻ mà... 6 tháng Tư mới trả lời email. Thêm nữa lịch duýt duỵt, mà lại còn bao nhiêu bạn văn tụ tập về vùng đất này, chỉ nguyên việc bắt tay, làm với nhau 1 ly là đã đủ hết ngày và đứ đừ rồi.
          Ấy thế mà lại lòi ra một tối rỗi. Tôi ngồi với nhà thơ Lê Huy Mậu, Đàm Chu Văn và mấy người nữa ngay ở cái xe đẩy trước cửa khách sạn và uống... nước rau má. Thế này thì phí thật, phí nguyên cái buổi tối tuyệt vời ở cái thành phố tận cùng đất nước mà ai cũng một lần mong đến này, phí cả cái ly nước rau má và cái ghế ngồi trông ra trước cái đại lộ gì quên mất tên... Tôi rút điện thoại gọi Nguyễn Ngọc Tư, mới tút hai nhịp đã thấy cái tiếng đơn đớt hơi lặp của Tư: Anh đang ngồi đâu, em biết anh ở Cà Mau rồi, đến đây cà phê với tụi em đi, em đang ngồi với... Tôi nói anh ngồi cũng đông người, muốn cà phê với em ngay tại cửa khách sạn cho có không khí, vì có mấy nhà thơ già (tôi nhìn Mậu cười) không đi nổi. Tư bảo thế ngồi đấy đi, tí em tới... Nhưng rồi chính tôi lại chủ động gọi lại nói Tư thôi cứ ngồi với bạn ở đấy đi, mai mình gặp nhau, người chứ có phải cái bánh xe đâu mà lăn qua lăn lại mãi thế. Mình cũng chỉ là một trong những fan hâm mộ mà thôi, phải biết... nhường cơm xẻ áo cho kẻ hâm mộ khác.
          Tối sau Tư chủ động gọi, hẹn sau tiệc chiêu đãi của ủy ban anh em mình gặp nhau hén. Có một chuyện ngoài lề nữa, là vô tình vợ chồng tôi lại gặp nhau ở Cà Mau. Vợ tôi đi công tác với cơ quan bằng ô tô qua nhiều tỉnh, đi trước tôi cả tuần và đến Cà Mau trước tôi một hôm. Tư biết nên hẹn em sẽ đến đón chị. Lại còn ngoặc thêm: Vẫn chị bữa trước hả. Là có đận Tư đã vào nhà tôi ở Pleiku. Vào lần đầu tiên mà rất hiên ngang, tự nhiên đi thẳng xuống bếp như đã quen lâu lắm với một câu chào mà bất cứ bà chủ nhà nào cũng... mát ruột: Em chào chị dâu.
          Chúng tôi đi ô tô, ngoài vợ chồng tôi còn có nhà thơ Lê Huy Mậu, Lê Thanh My, nhà văn Huỳnh Thạch Thảo, Huỳnh Văn Quốc...  Tư xe máy dẫn đường. Tôi đề xuất là đến đâu đó vỉa hè uống với nhau chai bia nữa thôi, chứ còn lúc nãy đã uống rượu ủy ban rồi, tê tê cả rồi, nói huyên thuyên rồi. Tư bảo cứ theo em. Giản dị giày vải, quần jean áo thun với cái túi ký giả, cứ chạy một đoạn đến ngã tư lại hạ chân ngoảnh đầu đứng chờ, cái mũ bảo hiểm như cái nấm ngúc ngoắc trông rất ngộ. Một cái nhà hàng khá xịn với không gian rất đẹp, rất rộng, có sân vườn và những ngôi nhà cổ toàn bằng gỗ tuyệt đẹp với đội ngũ nhân viên đồng phục rất chuyên nghiệp. Chúng tôi chọn một cái bàn ngoài sân, khá biệt lập, bên cạnh một hồ nước nhân tạo có hòn non bộ để tận dụng hơi nước cho mát và thoáng, có thể nói chuyện thoải mái.
          Tư là người rất ghét chụp ảnh và rất sợ bị đưa ảnh lên mạng dù ở blog Sầu Riêng của chị cái ảnh avatar là một cô Tư đang lấy tay che mặt khá teen và duyên. Với tôi đã 2 lần Tư đề nghị điều ấy. Lần thứ nhất là hồi chị lên Pleiku, tôi đi theo làm hướng dẫn viên, tiện tay chụp một mớ ảnh, sau đó tối post lên blog. Khuya khuya nhận được một tin nhắn tửng tửng: làm ơn gỡ giùm mấy tấm ảnh hộ đi, trông muốn... ói quá. A té ra là cô nàng có đọc blog của mình. Lần sau là ở Bến Tre, sáng tôi đi bộ bên bờ sông Hàm Luông, gặp cô nàng huỳnh huỵch chạy, sẵn máy ảnh đang giương chụp bình minh Bến Tre tôi lia sang phát, nhưng cô nàng rất tinh, một tay che mặt, chân bước chéo về trái nơi có cái cây khiến cho bức ảnh chỉ nhòe một bóng con gái không rõ hình hài, như là một nhân vật của bức ảnh thôi. Tôi đưa lên blog trong entry chung về Bến Tre, thế mà cũng nhận được ngay tin nhắn: Đổi hen, anh hạ ảnh em xuống, em gửi truyện ngắn cho anh. Chả là một tờ báo nhờ tôi xin một cái truyện của Tư in số tết. Anh hạ xuống cái em mail truyện ngay, còn không thì...
          Thế nên tối ấy tôi đã rất ngạc nhiên khi tôi đề nghị trước khi nhậu tất cả chúng ta chụp chung một bức ảnh và Tư đã chấp nhận ngay.
          Bây giờ thì Tư đã là... đặc sản Cà Mau. Dân viết lách, mà chả cứ chỉ dân viết lách nữa, bạn đọc thôi, đã về Cà Mau là đều muốn gặp Nguyễn Ngọc Tư. Chả thế mà mới đây, nhà báo Mai Thanh Hải tự nhiên điện cho tôi: Em sắp Cà Mau, anh giúp em làm quen với Nguyễn Ngọc Tư với. Tôi hơi ngại, bởi ngoài chuyện làm báo khá bận, thì tôi biết tính Tư khá lành, có phần e dè tiếp xúc. Đến chụp ảnh còn ngại nữa là. Mà lại còn chồng còn con. Tuy thế tôi vẫn giới thiệu với Tư là anh có thằng bạn nhà báo như thế  như thế, fan hâm mộ em, nó về Cà Mau chỉ để thăm 2 nơi, một là địa đầu đất Mũi, và 2 là... em, em chịu khó gặp nó nhé. Tư hỏi lại tôi một chút về Hải rồi bảo anh cứ cho số điện thoại đi. Hải về Cà Mau, ngày đầu không gặp được, gọi máy không thưa, tôi phải "đền đạn" bằng một anh bạn nghệ sĩ nhiếp ảnh, quan chức văn nghệ Cà Mau và một cây bút trẻ ở đấy. Tưởng Tư tránh thì tối sau chị chủ động gọi lại cho Hải và hẹn nhau ngồi ở một quán nhậu nào đấy. Cũng tưng bừng và tất nhiên là Hải chụp ảnh búa xua đúng với tư chất một fan hâm mộ. Nhưng cuộc nhậu nó hay ở chỗ là nhậu... đổi ca. Tôi chơi với Tư lâu nhưng chưa một lần biết mặt ông xã Tư, kể cũng tệ. Lẽ ra hôm nhậu cả hai vợ chồng với Tư phải đề nghị Tư mời ông xã ra. Thế mà hôm Hải ngồi với Tư nửa chừng thì Tư về trông con thay ông xã, điều chồng ra ngồi tiếp với Hải. Khuya thấy Hải gọi điện kể giọng đầy mãn nguyện. Chứ lại chả không, ước về gặp và thăm 2 đặc sản, giờ hóa 3. Chồng Tư làm nghề thợ bạc, nhưng ngoài ra anh còn là một chỗ dựa để Tư có thể tung tẩy viết văn. Nguyên cái việc cứ ở nhà trông con cho vợ đi công tác, và cả đi ngồi với fan hâm mộ là oách rồi, hiếm có anh chồng nào làm được rồi...
          Cách đây gần hai chục năm, tôi cùng Nguyễn Ngọc Tư dự một trại sáng tác văn học tổ chức tại trường phụ nữ trung ương ở Láng Trung. Hồi ấy Tư đang là nhân viên thủ quỹ của hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau. Trong trại tôi thấy Tư có hai việc hay làm, một là kêu một tay xe ôm chở ra bờ hồ chơi, nhiều khi tha thẩn cả ngày ở đấy, đến nỗi tay xe ôm quen mặt, có lần... không lấy tiền. Hai là thi thoảng lôi cuốn sổ ra cộng cộng nhân nhân. Thì ra đấy là sổ... nợ của cơ quan. Tôi thấy trong cuốn sổ ấy có tên cả mấy nhà văn tôi quen như Nguyễn Thanh, Lê Đình Trường. Cái thời ấy vui và trong sáng đáo để...
          Đến giờ, gặp được Tư quả là khó vì chị thoắt ẩn thoắt hiện như chim. Đại hội nhà văn lần thứ 7, cứ cậy mình quen, ào xông vào rủ Tư đi đám này đám kia, té ra có nhiều người... quen hơn mình cũng ào ào xông vô. Nhưng tính Tư vốn lặng lẽ, xong cơn ào ào ấy, Tư lại ở một mình trong phòng, còn cái đám ào ào kia thì đi nhậu.

           Đại hội nhà văn 8 vừa rồi, gặp nhau nhoáng một cái. Thấy Tư vẫn lặng lẽ tránh các đám đông dù rất nhiều người kéo Tư vào chụp ảnh. Tôi phát hiện thấy nếu né không được thì Tư mới đứng vào chụp chứ không có vẻ hào hứng một tẹo nào thế nên cũng không... bằng mọi giá xông vào chụp ảnh với chị. 
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư qua nét cọ của họa sĩ Còm
. 
          Một lần Tư hẹn, anh với em thi thoảng chat nhé. Bảo biết lúc nào em lên mạng mà chat. Trả lời tỉnh bơ: Cứ thấy em đỏ đèn thì là... em đang online. Thế mà có bao giờ thấy email của Tư đỏ đèn đâu, mail thì cả tháng chưa thấy trả lời. Đây là một cuộc chat hiếm hoi giữa tôi và Nguyễn Ngọc Tư:
          VCH- Từ "Ngọn đèn không tắt" đến "Cánh đồng bất tận" là một sự thay đổi rất lớn của Nguyễn Ngọc Tư cả về bút pháp và cách nhìn đời sống. Em công nhận không?
          NNT: Từ "ngọn đèn" tới "cánh đồng" mình gói vào một câu nhưng là khoảng cách 5 năm. Lẽ tự nhiên, em lớn lên, chững chạc thêm chút già đi thêm chút. Văn phong cũng vì vậy mà thay đổi, nói chung thì càng ngày càng… phức tạp. Em thường nghĩ trời đất ơi mình phức tạp quá, liệu hai mươi năm nữa thì sự phức tạp đó đậm đặc tới mức nào. Cũng may ông trời sáng suốt, thấy nhiều ông bạn già của mình giờ đơn giản lắm, hồn nhiên như trẻ con vậy. Cứ nhìn họ là mình lại thấy hy vọng…
          VCH- Anh khâm phục "Cánh đồng bất tận" nhưng lại thích thú và yêu mến "Ngọn đèn không tắt" hơn. "Ngọn đèn không tắt" tài hoa và đằm sâu nhân hậu. "Cánh đồng bất tận" khốc liệt và thông minh. Tất nhiên nó vẫn là một Nguyễn Ngọc Tư của đồng bằng Nam Bộ, của Cà Mau, nơi mà mình thấy Nam Bộ với nền văn hóa độc đáo khu biệt đã làm nên tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư và ngược lại Nguyễn Ngọc Tư đã làm cho vùng đất này trở nên phổ biến không chỉ trong nước, mà cả ở nước ngoài, bằng những trang văn tài hoa và tình yêu ngộp thở với nó...
          NNT: Tư cũng yêu "Ngọn đèn không tắt". Dạo ấy còn ngây ngô, viết câu văn cũng ngây ngô, ý tưởng càng ngây ngô. Mà trong trẻo, giản dị. Em vẫn thường nói đó là cuốn hay nhất, bởi vì mình không thể viết lại giống như vậy. Những va chạm, những trải nghiệm mới đã làm em vẫn yêu vùng đất này, nhưng yêu kiểu khác, riết róng và thực tế. Em nhận ra rằng chỉ cần mình yêu và gắn bó thật lòng, thì yêu kiểu nào cũng truyền dẫn tình yêu đó đến với người đọc, dù ít hay nhiều. Đọc "Cánh đồng bất tận" không làm người ta sợ Nam Bộ đâu, em tin vậy…
          VCH- Nếu có một thành phố nào đó, chiêu hiền đãi sĩ, mời thì em có chuyển nhà về đấy không?
          NNT: Không, cho đến giây phút này, em chẳng mảy may nghĩ mình sẽ bỏ xứ mà đi đâu đó. Để bứng mình đi hẳn phải có cú sốc nào đó ghê gớm lắm. Nhưng nó chưa xuất hiện mà em thì cũng chẳng mong đâu (hình icon mặt cười xuất hiện). 
          VCH- Em đang đọc gì? Có cuốn nào của tác giả trong nước không?
          NNT: Ôi, nhiều loại lắm, biết kể sao cho xiết. Sách cũng tùy tâm trạng, buồn thì tìm đọc thứ nhẹ nhàng, vui lại tìm những cuốn sách nặng đô, những cuốn có vấn đề đọc để… buồn. Nhưng văn học dịch thiếu nhi bao giờ cũng thích, con nít trong đó mới đúng là con nít. Đọc bao giờ cũng thấy mình bớt phức tạp hẳn.
          VCH- Có một hiện tượng là các nhà văn rất ít đọc... thơ? Tất nhiên anh biết vừa rồi em có tạt ngang chút đỉnh với thơ và... đau đớn thay cho cánh làm thơ (có anh) là thơ Nguyễn Ngọc Tư cũng được chào đón như văn xuôi.
          NNT: Trời, em đọc thơ chứ. Sổ tay ghi đầy những câu thơ (của người khác, tất nhiên). Em còn hay lân la chơi với mấy chú nhà thơ như Chim Trắng, Lê Văn Ngăn, Tô Thùy Yên… Nhưng thơ thường khó mua lắm, nếu như tác giả không… tặng, em buộc phải mò lên mạng để đọc, nhất là của những anh chị thơ trẻ. Việc làm thơ cũng là em bỗng nghĩ ra ý này ý nọ mà không thể diễn đạt bằng văn xuôi, mà bỏ luôn thì uổng quá. Không mấy khi gặp trường hợp vậy, mong anh đừng tỏ ra… đau đớn, hahaha.
          VCH- Em đánh giá về tản văn như thế nào? Người ta có thể sống được bằng chuyên viết tản văn không nhỉ?
          NNT: Không sống được. Nếu viết dở. Không ai đăng cho. Nhưng nói sống theo kiểu khác thì sống được, nhất là nếu người đó cô đơn và trầm tính, không thích bộc bạch mình bằng lời. Thì viết tản văn. Như một kiểu nhật ký, để người viết gửi gắm những điều mình nghĩ. Bằng cách này em gửi gắm được nhiều thông điệp, giải tỏa những cảm xúc đầy ứ trong lòng, mà truyện ngắn không làm được. Truyện của em toàn ảo, không gian và người ảo, không có hoặc rất ít Nguyễn Ngọc Tư ở đó. Em cho rằng tản văn gần với người viết nhất, bộc lộ tâm tư tình cảm của người viết nhiều nhất... 

           Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng của văn chương Việt Nam. Ngoài truyện ngắn và tiểu thuyết, tản văn của chị cũng là một thương hiệu, đến nỗi có ít nhất  2 trang web có hẳn mục riêng- Tản văn Nguyễn Ngọc Tư-  chỉ đăng tản văn của chị và thường xuyên có rất nhiều lượt truy cập.  Chị chứng minh một điều rằng, tài năng văn chương là thiên bẩm, nó sẽ phát lộ khi có điều kiện. Việc học đối với nhà văn chính là quá trình vật vã sáng tạo của họ. Quá trình ấy có sự quan sát đời sống, nghiền ngẫm cuộc đời, độc thoại với mình và đối thoại với mọi người, đau đớn với nó, trăn trở cùng nó... rồi là tìm cách thể hiện nó ra thành chữ, bắt những con chữ ấy cựa quậy trên trang giấy và trong lòng người đọc. Quá trình học tập của nhà văn là quá trình tự vượt lên những trang viết của chính mình để mình trưởng thành từ chính những trang viết ấy. Tất nhiên nhả ra một thì phải thu nạp hàng trăm, bằng chính những trải nghiệm của mình, sự quan sát tinh tế và cả sự khốc liệt của suy nghĩ... 
          Nhớ cái đận "Cánh đồng bất tận" gặp nạn. Không khí căng như dây đàn. Cũng là người ở tỉnh lẻ, và cũng từng dính vài ba vụ quy kết văn chương, tôi hình dung cái tỉnh Cà Mau khi ấy nó nặng nề như thế nào. Nếu như ở thành phố lớn một thì sự ngột ngạt ấy ở tỉnh lẻ là cả trăm, ai cũng nhìn mình như tội phạm, như sắp bị bắt đến nơi. Khi ấy Tư lại còn đang là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nữa, một câu nói thật của Tư về vai trò cá nhân của mình trong hội đồng lại càng làm "ngứa con mắt bên trái" của mấy bác, trong đó đặc biệt là bác Vưu Nghị Lực. Tôi nêu tên đích danh bác này là bởi hồi ấy bác này đăng đàn rất ghê, oánh cho Tư không có đường lùi, thậm chí còn đề xuất "trục xuất" Tư khỏi Cà Mau. Tất nhiên không phải tất cả bạn đọc Cà Mau đều nghĩ như vài bác cán bộ là Tư nói xấu người Cà Mau, nói xấu dân đồng bằng, nhưng họ lại không có diễn đàn, thế nên hồi đầu chỉ thấy các bài quy kết "cánh đồng bất tận" độc diễn. Sau đó thì một loạt báo lên tiếng, tôi nhớ mình cũng có một bài ngắn trên báo Văn Nghệ trẻ, rồi Hội Nhà Văn trao giải thưởng cho cuốn này, một cuộc trao giải "vượt ngưỡng" vì nguyên tắc là chỉ trao giải cho sách của năm ấy, mà tập của Tư thì ngoài "Cánh đồng bất tận" còn có thêm mấy truyện ngắn in lại. Biết thế nhưng không ai phản đối, bởi thứ nhất là "Cánh đồng bất tận" xứng đáng, thứ 2 là đây là một cách bày tỏ thái độ một cách rõ ràng và cương quyết của Hội Nhà văn. Bây giờ gặp có hỏi Tư cũng không thích nhắc lại chuyện này, thường là lảng sang chuyện khác, và bác Lực ấy, bây giờ chuyển công tác nhưng cũng không như xưa nữa, cái nhìn đã thông thoáng và nhân hậu hơn, thấu đáo và nhân văn hơn.
          Sau đấy thì "Cánh đồng bất tận được trao giải thưởng văn học ASEAN, một cách công nhận nữa, và nó được làm phim, một bộ phim rất thắng về doanh thu, nghe nói cao nhất Việt Nam từ trước đến nay ở thời điểm ấy. Nhưng riêng tôi, khi xem đến cái kết, tôi đã phải không thể kìm nén một tiếng thở dài. Thôi bỏ qua các loại sạn lổn nhổn như mọi phim Việt ta hiện nay, thì nó là phim khá nhất trong các loại phim Việt mà mình được xem đến giờ, trừ cái kết. Một cái kết lạ lùng nhất trong mọi cái kết phim tôi đã xem. Cả bộ phim là sự dồn nén, dồn nén cùng cực giữa một thằng cha thù đàn bà với một cô gái điếm nhưng... đoan trang, với hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, dậy thì mà lại sống chung thuyền với ngồn ngộn da thịt... cho đến khi cô gái điếm đoan trang kia chịu không được gã đàn ông khùng thì bỏ đi, cậu trai tí nhau bỏ đi theo tìm với tư cách trai tìm gái, còn lại cô gái trong sáng như thiên thần và thằng cha tăm tối kia ở lại cái thuyền với những con vịt thì bị một lũ lực điền côn đồ hiếp. Kinh hoàng là chúng dùng sức mạnh bẻ cổ người cha đang nằm dưới bùn bắt ngẩng đầu lên nhìn cô con gái mỏng manh ngơ ngác kia bị hiếp cũng trên cánh đồng năn lác, cảnh này quay kinh lắm, giỏi lắm, hai cái thân bầm dập lê lết, với với ngoắc ngoắc trong hoàng hôn đầy ám ảnh. Thế rồi... kết. Cả hai bố con cười tí tớn như địa chủ được mùa. Ông bố giãn nở cơ mặt chở đò đưa học trò đi học. Cô con gái thiên thần thuở nào bây giờ thỏa mãn và hạnh phúc vênh váo cái bụng bầu lên như một cuộc tình hạnh phúc khoe với những đám mây và đàn chim đang bay về tổ, một trăm phần trăm phim Việt, bỏ vào xứ nào cũng không lẫn. Tôi phải thốt lên: Sao nó giống phim Triều Tiên, Trung Quốc thuở nhỏ mình hay xem quá. Nhân hậu tha thứ là nhẽ đương nhiên, là thông điệp chính của bộ phim như đạo diễn nói, nhưng nhân hậu kiểu kết phim này, tôi lại thấy nó... ác.
          Trở lại cái hôm nhậu ấy. Tôi và Lê Huy Mậu đều đã say, chúng tôi như hai con... nghé ngồi kích bác nhau đủ thứ, chủ yếu là về cái bài hát Khúc hát sông quê mà Mậu là tác giả phần lời. Tư chỉ ngồi cười cười và thi thoảng lại nâng ly dzô. Mà Tư dzô thật chứ không chỉ hô lấy đà như các bà các cô khác. Và chính vì thế mà chúng tôi cầm lòng không đặng, chúng tôi tiếp tục như hai con nghé thấy cỏ non. Kết quả là Lê Huy Mậu liêu xiêu lên xe và sáng sau bỏ cuộc đi Đất Mũi... 
          Rời Hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau, giờ Tư làm cho một tờ báo ở thành phố Hồ Chí Minh, nghe nói thu nhập cũng rủng rẻng, nhưng phải làm việc quyết liệt, phải đi nhiều. Hôm Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc ở Tuyên Quang, Tư vừa là thành viên ban nhà văn trẻ, vừa là đại biểu "nhà văn trưởng thành" được mời, nhưng chị chỉ ghé Tuyên Quang được một đêm rồi sáng sau phải sang trước Thái Nguyên chứ không dự được chút nào, dù rất nhiều cây bút trẻ háo hức muốn gặp chị, và ngay ban tổ chức cũng hình như là chưa gặp được. Cũng như thế, hôm hội thảo văn xuôi ở Bến Tre do Hội Nhà Văn tổ chức, chị là thành viên Ban công tác nhà văn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng cũng chỉ dự được một ngày, hôm sau phải từ Bến Tre vọt xe đò thẳng về  Bạc Liêu tác nghiệp theo điều động của tòa soạn. Nghề báo nó khắc nghiệt thế. Nó tôn trọng sự nổi tiếng của tác giả, nhưng nó cần hơn kết quả trước mắt, ngay lập tức. Sản phẩm của nó là ăn tươi, là bắt tận tay day tận mặt. Anh lè phè là bị gạt ra ngoài ngay. Công việc ấy vừa là danh dự, lại vừa là nguồn sống của gia đình nên không thể lơ mơ được. Và cũng nhờ đi thế, dạo này tản văn của Tư lên sắc hẳn, đọc không lênh phênh như hồi đầu, mà nó cứ nhoi nhói thân phận, cứ mang mang cái nỗi buồn chợt gặp. Những chợt gặp ấy như cái cớ, cái duyên để tác giả tải cái nghĩ cái biết cái đau đáu không cùng của mình. Trông cái người có vẻ đơn giản thế kia mà bên trong ấy bao nhiêu suy nghĩ đang giằng xé, bao nhiêu cảnh đời đang găm lại, bao nhiêu điều muốn bày ra. Chữ của Tư thì khỏi nói rồi, nó vừa lấp lánh vừa trĩu nặng, và cái chính là nó không làm dáng, nó hiện lên đúng lúc cần, tải ngay điều nó phải có trọng trách, mà vẫn tung tẩy, vẫn tài hoa, vẫn tươi rói dư vị phương nam như con cá kèo đang quẫy trong ruộng, con cá thòi lòi bậm bạch bên sông... Mà cái dáng Tư dễ lẫn vào đời lắm. Cứ giày vải, túi tòng teng, một cái xe máy hoặc xe đò, nước da lẫn vào phù sa thế, đi đâu chả tới. Mới đây Tư hẹn: Hôm nào em bay lên Pleiku, anh thuê giúp cái xe máy, em chạy lên Măng Đen ngủ một đêm. Tôi hiểu ngay một đề tài đã lóe trong đầu. OK thôi, thậm chí nếu rảnh, anh đi cùng em, gần hai trăm cây số đường đèo chứ mấy...
          Viết xong bài này, như tính cẩn thận thường có, tôi mail cho Nguyễn Ngọc Tư với lời nhắn: "Em thân yêu, anh phải "nhậu" em thôi. Em đọc giùm anh nhé, và nếu có thể, cho anh vài cái ảnh, không thì anh phải dùng ảnh em đang chạy thể dục thôi, hơ hơ". Tư trả lời ngay, "Biết rằng không thể ngăn được con đường... nhậu của anh. Thôi đành. Nhưng đừng nói chuyện tiền bạc ai trả trả ai, cho bọn nhà văn nó có tính sang trọng tí, anh. Ảnh đây, ít nhất không làm thất vọng các chàng trai". Tôi mail tiếp: "nhất trí, không đứa nào trả tiền cả dù đoạn ấy khá vui và hot". Và Tư: "Bỏ 1 câu thôi mà. không suy suyển tới thằng hot và thằng vui". Thế nên trong bài này tôi đã bỏ một câu khá hot và vui về việc ai trả tiền bữa nhậu ấy và biết thêm chi tiết là trên đời có một thằng hot và một thằng vui.
VĂN CÔNG HÙNG

(Nguồn: vanconghung.blog)

PGS-TS Trần Ngọc Vương: "VẬY NÊN VUA MỚI MẮNG, NHÀ NGƯƠI NHƯ THẾ CÓ QUYỀN GÌ MÀ LẠI ĐÀN HẶC ĐỐI VỚI TA"


Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Không dám xúc phạm tới ai cả, nhưng nói thực, thời trẻ, với không ít điều tai nghe mắt thấy trong 6 năm du học ở Liên Xô (về chuyên ngành vô tuyến điện quân sự), tôi đã luôn ngạc nhiên khi thấy có một số nghiên cứu sinh ta mang sang nước bạn bảo vệ những luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ khoa học xã hội nhân văn với những chủ đề rất thuần túy Việt Nam, rất đặc thù Việt Nam. Tôi đã nghĩ rằng, nếu chúng ta làm công trình khoa học xã hội nhân văn về “chuyện riêng” của nước mình thì những người thẩm định đủ tầm nhất phải là những ông thầy người Việt, có nhiều năm nghiên cứu và phát triển lĩnh vực ấy… Khác đi, rất dễ rơi vào cảnh “giả lễ chúa Mường” với những “tấm bằng hữu nghị” như dân gian vẫn đồn đại. Bởi cách tư duy này nên nói thực là, khi còn trẻ người non dạ, tôi đã không ít lần có thái độ dửng dưng đến mức khinh khi trước cả những bậc đàn anh sang Moskva để bảo vệ luận án khoa học về phong trào thanh niên ba sẵn sàng trong chiến tranh hay nghệ tuồng chèo hoặc về tác giả văn học cổ điển này hay tác giả văn học cổ điển khác của nước ta…
Thế nhưng, từng trải thêm, tôi đã hiểu là tôi đã mắc tội “vơ đũa cả nắm” khi mang trong mình cách nhìn ấy. Bởi lẽ, tôi đã được gặp những nhà làm khoa học chân chính, dù cũng trải qua con đường nâng cao bằng cấp theo cách mà tôi đã nói ở trên nhưng không phải vì thế mà không kỳ đức xứng y phục. Một trong những người như thế là PGS - TS Trần Ngọc Vương, hiện là Chủ nhiệm bộ môn thuộc Khoa Văn Trường Đại học Khoa học và Nhân văn quốc gia. Tôi quen anh từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, khi anh mới từ Liên Xô trở về và xuất bản cuốn sách Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam với nội dung chính lấy từ luận án tiến sĩ mà anh đã bảo vệ ở Moskva. Rồi không ít lần tôi được ngồi trò chuyện với anh và cả giao du với anh bên chén chè, ly rượu… Và tôi đã khá chăm chú theo dõi những bước đường khoa học của anh qua những gì anh viết và công bố với một sự tin tưởng. Đặc biệt, sau khi anh cho ra đời tập Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ thì phải nói là tôi đã “tâm phục, khẩu phục toàn tập” đối với tài năng và lao động rất nghiêm túc của PGS-TS Trần Ngọc Vương.
Đúng như nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa, một người bạn chung của chúng tôi, đã nhận xét trong bài Trần Ngọc Vương - học giả hiếm hoi của thế hệ, ở nhà nghiên cứu này nổi trội hơn cả là sự sự am tường về triết học, cả triết học phương Đông lẫn triết học phương Tây… Và không những thế, cũng lại lời của Nguyễn Hòa, Trần Ngọc Vương “đã vượt lên so với mặt bằng chung bằng khả năng sử dụng các nguyên lý, phạm trù triết học,... như công cụ có ý nghĩa thế giới quan, phương pháp luận để khảo sát đối tượng. Điều này, một mặt bảo đảm cho sản phẩm nghiên cứu của Trần Ngọc Vương không phải là các hư cấu chủ quan, đưa ra vấn đề một cách cảm tính, luận chứng theo hướng tư biện, hay “ăn theo, nói leo”; mà đó là kết quả của quá trình suy tư nghiêm túc, để anh có thể đi từ ý tưởng trừu tượng đến các khảo chứng lý luận - thực tiễn. Mặt khác, là sự bảo đảm cho tính hệ thống, tính logich, ý thức khoa học nghiêm cách khi nghiên cứu”.
Trong tâm thế đó, tôi đã tìm tới con ngõ nhỏ trên phố Võng Thị để gặp PGS -TS Trần Ngọc Vương với hy vọng sẽ có được những suy tư thỏa đáng về một trong những chủ đề mà tôi rất hay nghĩ ngợi thời gian gần đây: trong điều kiện của xã hội kinh tế thị trường hiện nay, liệu chúng ta có thể tiếp thu và đẩy mạnh hơn những gì từ di sản của các nhà nho, của Nho giáo để làm sao vừa nhập thế được thành công, vừa bảo toàn được những hay ho đạo đức văn hóa trong bản thân mình…
PGS Trần Ngọc Vương 

Trần Ngọc Vương đã ra tận đầu ngõ để đón tôi. Trên đường đi vào nhà, tôi buột miệng hỏi anh: “Sao anh cứ PGS lâu thế?”. Anh hồn hậu trả lời bằng cái giọng Quảng Bình đặc sệt: “À, năm ngoái mình có làm hồ sơ nhưng không được duyệt, có người “đố kị”… Mình biết là ai… Còn năm nay thì mình không làm hồ sơ nữa… Mà vội gì, cơm không ăn thì gạo còn đấy…”. Và anh cười sảng khoái…
- Hồng Thanh Quang: Nếu tôi nhớ không nhầm, hình như sau khi tốt nghiệp Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp, anh được giữ ở lại làm giảng viên luôn?
- PGS -TS Trần Ngọc Vương: Tôi tốt nghiệp năm 1976 rồi ở lại trường luôn.
- Sau đó vào năm nào anh sang Liên Xô bảo vệ luận án?
- Từ tháng 10-1988 và đến cuối năm 1993 thì bảo vệ.
- 5 năm thì xong một luận án!
- 5 năm! Chủ đề thì như Hồng Thanh Quang đã biết rồi, là nghiên cứu về loại hình hóa các tác giả nhà Nho, là chủ đề lớn, còn chủ đề nhỏ hơn là đi sâu là nghiên cứu loại hình nhà nho tài tử.
- Tôi cũng xin nói thật, tôi cũng từng giống như nhiều người, đã không thể hiểu rằng, tại sao bảo vệ luận án về nhà nho tài tử ở Việt Nam mà lại phải sang tận Moskva để bảo vệ. Vì bên ấy có điều kiện vật chất tốt hơn? hay vì ở bên ấy có những ông thầy giỏi hơn, hiểu biết hơn về những chủ đề luận án của các nghiên cứu sinh Việt Nam?
- Thật ra thì cũng có nhiều lý do. Thứ nhất là về mặt phông chung, thì đi ra nước ngoài để tiếp cận với một nền văn hóa và khoa học phát triển lâu đời và cũng cao hơn thực tế trong nước mình, thì cũng là một nhu cầu rất lớn của tất cả những ai muốn phát triển đi lên. Nếu chỉ học theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa như ở trong nước lúc ấy thì rất là khó. Đấy là một lý do. Lý do thứ hai là, quả thật Liên Xô đã có một đội ngũ nghiên cứu Đông phương cực kỳ hùng mạnh, tới hôm nay vẫn được đánh giá rất cao…
- Và anh thực sự đã được “tận mục sở thị” điều đó khi anh làm luận án của anh ở bên Liên Xô? Anh thực sự  thấy rằng, kiến thức, trình độ hiểu biết, phương pháp luận của những ông thầy được phân công giúp anh làm luận án này xứng đáng để chúng ta ngưỡng mộ?
- Ông thầy của mình là một nhà Trung Quốc học rất nổi tiếng, Igor Samoylevich Lisevich.
- Tôi có biết chút ít về học giả này. Ông ấy bác bỏ khái niệm về sự biệt lập của các trung tâm các nền văn hóa cổ đại. Và ông ấy hình như cũng là người đã dịch “Đạo đức kinh” ra tiếng Nga?
- Đúng thế. Sách của ông ấy viết về văn hóa Trung Quốc đã được dịch lại ra tiếng Hán. Và về gần cuối đời, ông ấy đã tham gia sáng lập nên Viện Tin học quốc tế. Còn chuyện này nữa, viện sĩ Lisevich là người có tư duy mang màu sắc triết học rất là cao, cho nên ông ấy lại nghiên cứu những vấn đề khoa học nhân văn trong khoa học vũ trụ.
- Trong môn vũ trụ học…
- Môn vũ trụ học.
- Tôi có biết chuyện này. Viện sĩ Lisevich đã tham gia xây dựng giả thuyết về ancient astronauts, tức là nhà du hành vũ trụ cổ. Theo đó, thì hình như thời xa xưa đã có sinh vật ngoài trái đất xuống hành tinh chúng ta và tác động đến văn hóa lúc khởi điểm phát triển của nhân loại. Tất nhiên, không phải nhà khoa học nào cũng ủng hộ giả thuyết này…
- Ông ấy cũng có cuốn sách được dịch về Việt Nam đấy.
- Đó là cuốn gì ạ?
- Cuốn Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ, do ông Trần Đình Sử dịch và cho in lần đầu năm 1994. Sau này, Viện sĩ Lisevich có sang đây và đề tựa lại cho bản tiếng Việt và ông Sử cũng sửa chữa lại bản dịch rồi tái bản ở NXB Giáo dục. Bức ảnh ông ấy chụp in trong cuốn sách đó chính là chụp tại nhà tôi ở Việt Nam.
- Đề tài luận án tiến sĩ của anh là về các nhà nho, các nhà nho tài tử. Tôi muốn hỏi là, đến bây giờ, nhận thức của anh về các nhà nho Việt Nam một thời có gì thay đổi không hay vẫn nguyên như cũ? Và nếu vẫn nguyên như cũ, thì anh thấy, hiện nay chúng ta cần nhấn điều gì nhất trong hình ảnh nhà nho, trong tư cách nhà nho cổ để nhìn vào đấy mà điều chỉnh ứng xử của mình trong xã hội hiện đại ở đầu thế kỷ XXI này?
- Thực ra, việc nghiên cứu về Nho giáo thì cũng phải nói sòng phẳng rằng, suốt một thời kỳ khá dài ở ta  đã không được xúc tiến và bị trì trệ khá lâu sau những công trình có tính chất mô tả tổng quan của ông Trần Trọng Kim, viết năm 1928 và in 2-3 tập hồi năm 1932. Từ đó cho tới một thời gian dài sau đã không có những công trình lớn cỡ như thế nữa. Mặc dù tôi phải nói rằng, sách  của Trần Trọng Kim chỉ có tính mô tả nhưng nó lại mang tính nhập môn rất là cần thiết… Khi cuốn sách của Trần Trọng Kim ra đời cũng có một số bài, một số người phê bình theo nghĩa là đối thoại và bàn luận thêm.  Có một người đối thoại dài hơi hơn cả, bằng một cuốn sách mong mỏng trên dưới 100 trang, đó là cụ Đào Duy Anh, với cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận.
- Hình như cuốn này in từ năm 1938 và, như chính anh đã nhận xét trong một bài viết, “được coi là công trình đầu tiên và có lẽ là duy nhất trước Cách mạng tháng Tám đã thử vận dụng thế giới quan Mácxít để khảo sát và đánh giá Nho giáo”?
- Đúng thế… Và từ đấy, trong một thời gian dài, ở ta ít có bài viết nghiêm túc và công phu về Nho giáo. Đó là do thiếu phương tiện, thiếu điều kiện để nghiên cứu đã đành, nhưng trước hết là do quan điểm rằng, nó chỉ là tàn dư còn lại của quá khứ (!?).
- Của thời phong kiến.
- Chính vì thế nên, như người ta nói, cần đào cho sâu, chôn cho chặt, chứ không trở lại với nó làm gì. Quan điểm đó thực ra mà nói thì nó hơi đơn giản, hơi nông nổi, nhưng hệ quả của nó lại rất nặng nề. Là bởi vì Nho giáo không được đi sâu nghiên cứu nên một loạt những vấn đề nó trầm tích lại hàng nghìn năm không giải quyết hết.
- Và nếu không nghiên cứu kỹ quá khứ, không nghiên cứu kỹ di sản thì sẽ không hiểu được cái mới, rất khó tiếp nhận cái mới, đúng không anh?
- Và cũng không hiểu sự chi phối của nó một cách âm thầm nhưng rất quyết liệt đối với hiện tại.
- Theo anh, bây giờ tư tưởng Nho giáo liệu nó còn ảnh hưởng mạnh vào trong nếp tư duy và lối sinh hoạt của người Việt Nam hiện tại hay không?
- Có chứ. Tuy nhiên, ta cũng phải nói một chuyện như thế này. Nếu nhìn theo góc độ ảnh hưởng một cách trực tiếp, theo lối như ngày xưa là tầm chương trích cú, với một điều kiện người ta coi đương nhiên anh phải đọc trực tiếp sách vở, biết chữ nghĩa, được truyền thụ những tri thức trong hệ thống giáo dục của Nho giáo thì ở xã hội ta, số người như thế cực kỳ ít. Thế nhưng, tinh thần Nho giáo nó đã chìm vào trong cả những phong tục, cả những tập quán, cả những thói quen sinh hoạt rồi; trước kia nó còn được định chế hóa vào trong cơ cấu xã hội, thậm chí nó đã đi vào trong vô  thức, cái mà Jung (Carl Jung, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, người được coi là nhà tâm lý học hiện đại đầu tiên - HTQ) gọi là vô thức tập thể, nó chi phối rất nhiều phương diện.
- Tôi hiểu rồi. Nhưng tôi vẫn muốn hỏi anh, với tư cách là một nhà nghiên cứu Nho giáo đã nhiều năm, anh thấy Nho giáo in hằn trong tâm thức dân tộc như thế nào và nó ảnh hưởng như thế nào đến cách ứng xử và lối sinh hoạt của người Việt Nam hiện đại?
- Nếu đã đặt câu hỏi như thế thì phải ngoái lại một chuyện là, những gì mà chi phối nhận thức của chúng ta về Nho giáo trong mấy chục năm vừa rồi? Thế thì là thế này, mấy chục năm vừa rồi, một mặt thì vấn đề ấy bị lờ đi, không được đặt ra để suy nghĩ, nhưng mặt khác, sau đó có một số người vẫn đi theo hướng nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ cấu trúc của Nho giáo và sự chi phối của nó từ trong lịch sử cho đến thời hiện đại. Và người tiêu biểu nhất của nửa sau thế kỷ XX trong hành trình đi tìm kiếm cái đó là cố Giáo sư Trần Đình Hượu. Cuốn mà rất nhiều người đọc để tìm hiểu cái đó chính là cuốn Đến hiện đại từ truyền thống. Đấy, cách đặt vấn đề nó đã thấy rất rõ. Và tôi phải nói rằng, khi nghiên cứu Nho giáo và văn hóa  truyền thống Việt Nam, Trần Đình Hượu đã có được một ưu thế rất lớn ưu thế nghiệm sinh …
- Ưu thế nghiệm sinh? Anh có thể nói rõ hơn?
- Tức là các suy nghĩ và luận giải về Nho giáo, nhà nho và thực tế nền văn hóa, văn học truyền thống trong sách của Trần Đình Hượu không chỉ là một kết quả của một quá trình nghiên cứu mang tính hàn lâm, mà cả từ sự suy ngẫm và tổng kết khái quát lên từ vốn sống, từ sự quan sát thực tế…
- Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi - Goethe đã nói thế rồi mà… Nhưng tôi cũng phải nói thật, sách của cố GS Trần Đình Hượu rất không dễ đọc đối với những người không phải chuyên gia.
- Đúng thế. Nhưng đó là cuốn sách mà theo tôi, trong đó có những bài rất có giá trị trong nghiên cứu về Nho giáo ở nước ta. GS Trần Đình Hượu đã đưa ra đánh giá: Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng chỉ gắn bó chủ yếu với phương diện quan liêu mà không phải toàn bộ hay bất cứ biến thể nào của chế độ chuyên chế. Theo tôi, đó là một phát hiện có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng để tìm thấy thực chất của Nho giáo trong quỹ đạo chính trị - xã hội của nó.
- Tôi có biết rằng, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ở ta có dịch cuốn sách “Thế giới Hán hóa mới” của nhà nghiên cứu người Pháp nhưng cũng đã có thời gian ở Việt Nam là Léon Bandermeersch viết xong từ năm 1987. Cuốn sách này đã  có ảnh hưởng rất lớn ở châu Âu, châu Mỹ và ở Việt Nam, nó cùng tìm ra được nhiều “môn đệ”. Anh tất nhiên là đã đọc cuốn sách này?
- Tôi đã đọc. Thế nhưng, đọc nó xong thì ngay từ lúc đó, tôi lại kịp hình dung vấn đề theo hướng khác với Léon Bandermeersch. Tôi là một trong những người có lẽ tương đối sớm và cho đến giờ cũng là ít thôi, đã không đồng ý với cách đặt vấn đề của Léon Bandermeersch. Ông ấy  lý giải nguyên nhân dẫn tới sự đột biến thần kỳ trong xã hội, trong nền kinh tế ở Nhật Bản sau năm 1945, rồi ở Hàn Quốc từ những năm 70, rồi ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, rồi đến cả ở Trung Quốc bây giờ nữa, là ở những giá trị của Nho giáo và ở sự biết khôi phục tận dụng những giá trị  đó. Ông ấy chứng minh rằng, tất cả Đại Long, Tiểu Long… đều là do những giá trị kiểu như vậy. Tôi thì tôi lại đặt vấn đề kiểu khác. Theo tôi, nếu thực sự những giá trị ấy có tác dụng thần kỳ như thế trong thời hôm nay thì thì tại sao trước đây, những giá trị đó lại làm chìm đắm đi các xã hội của khu vực này…
- Vào sự lạc hậu, mông muội…
- Chính vì bị Nho giáo làm cho lạc hậu, trì trệ nên mới bị phương Tây nó đến thuộc địa hóa như vậy, biến thành những nước kém phát triển như vậy. Rõ ràng ở đây, chí lý ra  thì mình phải đặt vấn đề một cách hệ thống hơn là: nếu như quả tình những giá trị đó thực sự là quý giá thì ngày xưa, chế độ phong kiến đã vùi lấp cái thực sự quý giá đó như thế nào và chèn ép không cho nó được khai thác như thế nào? Đúng không ạ?
- Anh nói đúng!
- Và tiếp theo, mình phải đặt vấn đề là, xã hội hiện đại đã khai phá cái quý giá đó, đã cởi then cho nó như thế nào? Anh phải giải mã được cái đó… Nhưng cũng phải nên nhớ rằng, từ cuối thế kỷ XIX, bắt đầu từ Trung Quốc, từ 1840 trở đi khi nội chiến nổ ra, rồi ở Nhật Bản những năm 60 của thế kỷ XIX, những người có tư tưởng thay đổi xã hội thì đều đặt ra vấn đề là: phải bằng cách này, cách khác chống lại sự ỳ của Nho giáo, chống lại mặt trái của Nho giáo và tất cả đều rộ lên chuyện tức là phải chống lại mô hình Nho giáo của sự phát triển, chống lại sự phủ định tâm huyết, nhiệt tình, quyết liệt trong tư tưởng Nho giáo. Và ta cũng cần nhớ là, sự chống Nho giáo ở Trung Quốc nó kéo dài mấy chục năm, thậm chí là hơn nửa thế kỷ cho đến tận thời của Lỗ Tấn. Lỗ Tấn chính là một trong người chống Khổng giáo quyết liệt nhất, đập phá cửa hàng anh Hai Khẩu, mô tả Khổng Tử như con chó hoang của nhà có tang, rồi gọi nền văn minh trên cơ sở Nho giáo là nền văn minh ăn thịt người v.v... Và bên phía Nhật Bản thì vấn đề này đã được đặt ra rất rõ trong Thoát Á luận của Fukuzawa Yukichi: nội dung thực chất của việc “thoát Á” chính là thoát khỏi Nho giáo. Bên Triều Tiên cũng từng có cuộc vận động chống Nho giáo. Ở ta đầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân cũng là phong trào chống Nho giáo, do những nhà nho mà ta có thể gọi là nhà nho phản tỉnh tiến hành, đưa Nho giáo ra để tố cáo và tế sống thầy đồ…
- Theo anh, tại sao tới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nho giáo lại rơi vào tình thế thê thảm đó?
- Về sự thê thảm của Nho giáo và kéo theo là sự trì trệ lạc hậu phát triển quanh co của các nước trong khu vực chịu ảnh hưởng Nho giáo thì ta lại phải hiểu cho được là, những phương diện nào của Nho giáo đã được khai thác và đã được đẩy mạnh lên trong vòng mấy nghìn năm ấy? Và đồng thời, ta lại  phải đi tìm bí mật của sự bùng nổ của giai đoạn sau này. Thì cách đặt vấn đề của tôi là, anh phải hiểu cho được cái gì trong quá khứ ấy bây giờ được khai thác, chứ còn nếu anh nói Nho giáo như một cái nguyên khối thì người ta sẽ nói với anh ngay lập tức: cái đó chính là tội nhân của lịch sử, là chướng ngại của lịch sử cần phải…
- Phá bỏ. Nhưng tôi muốn anh nói theo cách đơn giản hơn. Theo anh, yếu tố gì trong Nho giáo đã được các chế độ phong kiến tận dụng, lợi dụng và kết cục là dẫn nhiều xã hội Á đông tới chỗ cùng đường và bị thua trước phương Tây?
- Cái mà Nho giáo được khai thác mà trở thành trục chính nó ở trong xã hội đó chính là cái phân tầng và duy trì tính phân tầng rất quyết liệt của trật tự đẳng cấp. Và cái sự độc tôn ngôi vua chuyên chế là cái mà chế độ chuyên chế ngày xưa kiên trì nhất để duy trì cái đó. Phương diện thứ hai là duy trì tồn tại của công xã nông thôn nhưng mà nó bảo lưu rất đậm tính chất thị tộc, tức là tính quan hệ thân tộc dòng họ. Ở trên là chuyên chế, ở dưới là kết cấu thân tộc thì nó ràng buộc, nó giữ...
- Rất là chặt!
- Nó rào mối rất là chặt!
- Và nó ngăn cản tất cả sự xuất hiện của sáng kiến.
- Tất cả sự mới mẻ đều bị chính mô hình đó ràng buộc.
- Còn trong thời hiện tại, sau Thế chiến thứ hai thì theo anh, cái yếu tố gì tiềm ẩn trong Nho giáo đã được khơi mở ở một số nước châu Á và giúp họ có những phát triển vượt bậc?
- Đối với Nho giáo mấy nghìn năm qua có một số phương diện mà các triều đại phong kiến không bao giờ quan tâm đầy đủ và khai thác triệt để là vì những thứ đó không có lợi cho mô hình chế độ chuyên chế. Nhưng ở thời hiện đại thì người ta lại khai thác một số phương diện khác, ví dụ như tính bổn phận, nhưng theo nghĩa lành mạnh của nó, theo nghĩa tích cực của nó. Tức là, trong một cấu trúc xã hội dân sự mà trật tự của nó chặt chẽ, thì nó khó làm cho ta phát triển con người cá nhân. Nhưng nếu anh khai thác theo phương diện bổn phận và nghĩa vụ và khai thác đúng thì nó vẫn tạo ra sức mạnh đồng thuận rất lớn. Nhưng như thế thì phương diện chính danh của nó phải được thực hiện một cách quyết liệt. Tức là người cha, ngày xưa gọi là nghiêm phụ, nghiêm đấy, vừa là nghiêm túc, vừa là nghiêm khắc, ông cha nghiêm túc và nghiêm khắc, tự đòi hỏi chính mình và đòi hỏi tất cả thành viên trong gia đình phải thực hiện đúng bổn phận. Nếu tuân thủ đúng cái đó thì ông cha trở thành ông cha chính danh và từ vợ đến con cái đều vâng phục và chấp nhận. Mọi người sẽ vâng phục nhưng với một điều kiện là người trên đó là phải xứng đáng.
- Tức là người nào thì phải xứng đáng với ngôi vị ấy.
- Chính xác.
- Nếu mà thực hiện được cái ấy thì sẽ làm sự phát triển hơn.
- Chính danh. Tức là danh chính ngôn thuận và thuyết chính danh nó có sức mạnh của nó, tức là anh phải làm đúng bổn phận ấy rồi sau đó anh mới có quyền hặc hỏi người khác, dạy dỗ người khác và cao hơn nữa là trừng phạt người khác. Nhưng ở chỗ này tôi phải nói ngay một chuyện là thế này, sở dĩ Nho giáo thất bại trong quá khứ là vì Nho giáo không có một cơ chế mang tính ràng buộc. Nho giáo không thể trừng phạt người trên ngay cả khi người trên ấy sai.
- Đấy là điểm yếu, vì các ông trên, các ông “con giời” ấy rất dễ bị sai bởi quyền lực vô độ của mình (cười).
- (Cũng cười) Cái ông trên to nhất mà sai là ai?
- Là vua!
- Vua. Vua được quyền miễn trừ quá nhiều chuyện và có nhiều phần ta gọi là phương diện ngầm định, nó không hiển ngôn ra trong kinh điển đâu, nhưng vua được ngầm định quá nhiều đặc quyền. Nói như Marx là, quyền lực không bao giờ tự nó lại tìm cách đào thải cả, mà chỉ muốn củng cố thêm thôi. Cho nên, anh phải có một cái gì để chế định lại, để mà đối trọng với cái đó. Và trong cơ chế ngày xưa, trong triều định cơ chế để đối trọng là cực kỳ mong manh, tức là chỉ có một bộ phận ta gọi là phản biện, đó là ngự sử đài. Về nguyên lý của đạo Nho thì nói như Mạnh Tử là anh phải được quyền làm đến mức độ “cách quân tâm chi phi”.
- Nghĩa là?
- Anh phải bỏ cho được cái sai trong lòng vua. Anh phải bác bỏ cho được, loại bỏ cho được cái sai trong lòng vua. Nhưng ở đời, có mấy ông ngự sử làm được điều đó!
- Theo anh, trong lịch sử Việt Nam có ông ngự sử nào ở gần gần với vai trò ấy không?
- Thực ra nếu mà nhìn lịch sử Việt Nam, - lịch sử Việt Nam tôi cũng thuộc như văn học Việt Nam vậy, đến từng thập kỷ một cơ -, tôi có thể nói rằng, ông ngự sử đích thực ở cỡ đó thì ở ta rất hiếm.
- Ngô Sĩ Liên ở cỡ nào? Anh thử nhận xét!
- Ngô Sĩ Liên chỉ là sử quan chứ không phải là ngự sử. Sử quan là quan chép sử, còn ngự sử...
- Ông ấy có những câu bình rất dữ tợn về các vị vua đời trước.
- Hay khoan đừng hiểu lầm, ông bình những người chết rồi thì ông có thể rất bạo bút, nhưng chính Ngô Sĩ Liên khi mà vua nói muốn xem sử thì ông cũng phải cho xem.
- Ông vua nào đòi chuyện này? Lê Thánh Tông thi sĩ?
- Lê Thánh Tông! Lê Thánh Tông đã có lần trách phạt Ngô Sĩ Liên rất nặng và mắng Ngô Sĩ Liên rất ghê.
- Vì sao?
- Vì tội a dua với một số người không tốt, rồi khi người này người kia có chức có quyền mà có lỗi thì lại không dám nói. Và có những thời điểm thậm chí là tỏ ra những dấu hiệu, tất nhiên là cũng chưa thật rõ, những dấu hiệu không thật là trung. Vậy nên vua mới mắng, nhà ngươi như thế thì có quyền gì mà ngươi lại đàn hặc đối với ta và đàn hặc với người này người khác. Nếu đọc kỹ lịch sử, ta lại thấy sự lộng quyền của người làm vua một phần rất lớn và chủ yếu là do đám bề tôi ở dưới không đủ bản lĩnh để kiên quyết.
- Nhưng đám bề tôi lại nói rằng bởi vì không có một cơ chế để họ có thể kiên quyết với người trên!
- Chính xác thế. Vì thế mọi sự phụ thuộc vào nhân cách cá nhân chứ không phải phụ thuộc vào cơ chế, mà phụ thuộc vào nhân cách cá nhân là một cái gì rất mơ hồ.
- Rất mong manh!
- Rất mong manh, chính xác! Lúc nào mà may được ông vua tốt, thì mọi người có thể tốt. Cái đó gọi là nhân trị, đức trị. Nhân trị, đức trị nó nguy hiểm ở chỗ đó, là bởi vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào cá nhân của người cầm quyền…
- Bây giờ người ta lại nói nhiều tới thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử…
- Pháp trị thì nó không phụ thuộc vào người cầm quyền mà phụ thuộc vào nguyên tắc pháp định. Tuy thế, pháp trị nó chỉ khắc phục một số phương diện hạn chế nhất định của đức trị, nhân trị, nhưng nó lại đẻ ra thêm một số mặt trái cũng rất nặng nề. Bởi vì pháp trị của Hàn Phi là dựa trên hai tiền đề, coi như thừa nhận mà không chứng minh 2 tiên đề. Một là, cái này hơi giống Nho giáo, ngôi vua là không được động chạm, “bất khả tư nghị”. Và vì thế vẫn chừa chỗ cho một kẻ lộng hành.
- Hóa ra pháp luật ấy mình đặt ra không dành cho vua mà dành cho tất cả các bề tôi.
- Phục vụ cho vua.
- Đôi khi điều đó lại tệ hơn học thuyết Nho giáo bình thường.
- Cái thứ hai là nó không tính đến hạnh phúc của người dân.
- Tức là chỉ tính cái lý mà không có cái tình ở trong đấy.
- Đúng thế.
- Đi lối nào cũng có cái hay và cũng có cái dở… Mà ở nước mình thì trăm cái lý không bằng một tí cái tình… Xin cảm ơn anh và hy vọng sẽ có cơ hội được trò chuyện tiếp cùng anh!

Wednesday, February 1, 2012

NHÀ THƠ VŨ THIÊN KIỀU – Á QUÂN CUỘC THI THƠ TẠP CHÍ VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI: “TÔI CHỌN LỤC BÁT ĐỂ GẮN BÓ VÀ TRẢI LÒNG”


Cái khó của những người sáng tác sau như tôi là tìm được tứ, ngôn từ mới vì các bậc tiền bối đã khai thác và có những tác phẩm rất hay ở mọi lĩnh vực. Nên muốn viết hay, lạ mà không “đụng hàng” thì cần phải đầu tư rất nhiều, muốn thế phải có niềm đam mê sâu sắc. Mà sự yêu thích và đam mê sáng tác thơ lục bát thì luôn có sẵn trong tôi, tôi chọn lục bát để gắn bó và trải lòng là vậy.
Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV trao giải thưởng cho Vũ Thiên Kiều

Có duyên với lục bát
- Tại sao chị lại chọn lục bát để gắn bó mà không phải là một thể thơ khác?
- Tôi sinh ra ở làng quê Việt Nam, cuộc sống của tôi từ ngày thơ bé là ở nông thôn miền Bắc và bây giờ là nông thôn miền Nam. Tôi thường xuyên tiếp xúc với phong cảnh, công việc gắn với chất quê. Lục bát là thể thơ thuần Việt nhất, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa, tâm linh của người Việt Nam từ nghìn đời nay. Hơn thế, lục bát không chỉ là một thể thơ mà còn là “Hồn dân tộc”, là di sản của ông cha để lại cho con cháu. Bất cứ người Việt nào cũng có thể thuộc ít nhất vài câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Rồi những câu thơ, ca dao, những lời ru của bà, của mẹ đã đi vào tâm hồn tôi để khi lớn lên làm mẹ tôi tiếp tục ru con bằng những câu lục bát ấy. Mặt khác, có thể là tôi rất có duyên với thơ lục bát. Khi sáng tác, không phải thích là được mà phải đam mê và có duyên nữa.
- Nhưng lục bát cũng là thể thơ đã có những đỉnh cao ngất ngưởng khiến các thế hệ sau khó mà vượt qua, đấy là chưa nói nếu không khéo sẽ rất dễ rơi vào tình trạng… ghép vần?
- Cái khó của những người sáng tác sau như tôi là tìm được tứ, ngôn từ mới vì các bậc tiền bối đã khai thác và có những tác phẩm rất hay ở mọi lĩnh vực. Nên muốn viết hay, lạ mà không “đụng hàng” thì cần phải đầu tư rất nhiều, muốn thế phải có niềm đam mê sâu sắc. Mà sự yêu thích và đam mê sáng tác thơ lục bát thì luôn có sẵn trong tôi, tôi chọn lục bát để gắn bó và trải lòng là vậy.
- Chị yêu thích tác giả thơ lục bát nào?
- Mỗi tác giả có một cách viết, cách thể hiện, đề tài, giọng thơ khác nhau, nhưng họ đã được giới chuyên môn, bạn đọc đánh giá cao và ghi nhận. Vì thế với các nhà thơ viết lục bát tên tuổi như Nguyễn Duy, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ, Trương Nam Hương, Văn Công Hùng, Huy Trụ… hay như các bạn trẻ viết lục bát hiện nay như Miên Di, Nguyên Nguyên, Lê Minh Đạt, Võ Thị Phương Thúy… với tôi không chỉ là sự yêu thích mà còn mến phục. Tôi luôn đọc, nghiền ngẫm và học tập ở họ.
Vừa cho heo ăn vừa… làm thơ
- Chị làm thơ trước rồi mới làm cán bộ dân vận hay ngược lại?
- Tôi hưởng lương nhà nước gần 20 năm, chuyển sang làm cán bộ dân vận mới được 6 năm, còn thơ tôi đã làm từ thời học phổ thông. Nhưng từ khi lập gia đình đến nay, việc cơ quan, gia đình cuốn đi nên tôi không còn nhiều thời gian dành cho thơ. Tuy vậy, hàng ngày khi có tứ thơ xuất hiện tôi đều nhẩm đi nhẩm lại cho thuộc để khi đêm về, khi đã xong công việc thì chép vào sổ. Ơn trời! Tứ thơ đến với tôi rất nhanh, có khi đang chạy xe, đang cho heo ăn hoặc nấu ăn cũng có thể kết hợp làm thơ được.
- Đã bao giờ chị dân vận bằng… thơ chưa?
- Với vai trò người cán bộ làm công tác dân vận, đòi hỏi phải luôn mềm dẻo, linh hoạt, ăn nói phải rõ ràng và điều tối kỵ là không thể nói những câu lưng lửng… như thơ. Tôi hiểu điều ấy và đã làm tốt nhiệm vụ của mình phù hợp với từng cương vị. Sẽ rất khó nếu trực tiếp dân vận bằng thơ. Nhưng thơ đã giúp cho tôi làm tốt công tác dân vận. Ví dụ, khi phát động phong trào văn nghệ của địa phương, các đội dự thi trong các tiểu phẩm đều muốn có một vài câu thơ viết về nội dung họ dự thi cho bay bổng thi vị hơn, thế là tôi giúp họ. Những điều nho nhỏ ấy giúp cho mọi người thấy yêu thích thơ hơn, hiểu được giá trị của thơ ca trong đời sống tin thần, có cách nhìn chia sẻ và không quan niệm những người làm thơ là người có đầu óc thơ… thẩn nữa.
- Giải thưởng vừa rồi là một sự ghi nhận đối với Vũ Thiên Kiều trên con đường thơ ca, chị thích được gọi là nhà thơ hơn hay là cán bộ dân vận hơn?
- Giải thưởng vừa rồi đối với tôi là một bước ngoặt lớn trên con đường thơ ca. Tôi hiểu trên ngã rẽ đầu tiên ấy tôi có nhiều sự thuận lợi hơn nhưng cũng không ít chông gai, thách thức. Thế nên tôi vẫn phải nhờ nữ cán bộ dân vận nuôi “nhà thơ” Vũ Thiên Kiều của tương lai.

.Tác giả Vũ Thiên Kiều sinh năm 1974, quê gốc Thái Bình. Hiện làm việc tại Ban Dân vận huyện Hòn Đất, Kiên Giang. Trong cuộc thi thơ lục bát kéo dài hai năm (2010-2011) Vũ Thiên Kiều đã đoạt đồng giải nhì cùng với tác giả Ngọc Tuyết, cuộc thi không có giải nhất. Đã in các tập thơ lục bát: Khát; Đất, Nước và Tình thơ; Đốt miền tĩnh lặng.

DƯƠNG TỬ THÀNH
(Nguồn E văn)

THƯ MỜI THAM DỰ NGÀY THƠ VIỆT NAM CỦA KHOA VIẾT VĂN


Như thông lệ hằng năm, năm nay Khoa Viết văn - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức Ngày thơ Việt Nam mang tên “Thơ ca - những tìm kiếm bất tận”.

Chương trình Ngày thơ có sự tham gia trong vai trò chính của hai nhà thơ có uy tín trong nền thơ ca Việt Nam đương đại: Nhà thơ Trương Đăng Dung (PGS.TS, nhà Lý luận văn học), người vừa công bố tập thơ gây chú ý trong dư luận bạn đọc và những người yêu thơ mang tên “Những kỷ niệm tưởng tượng”(NXB Thế giới - 2011); và Nhà thơ Bảo Chân, tác giả của nhiều tác phẩm thơ đã công bố, trong đó đáng chú ý là tập “Những chiếc gai trong mơ” (NXB Thế giới -2010, song ngữ, do chính tác giả sáng tác và chuyển ngữ sang tiếng Anh).
Ngoài ra, còn có sự tham gia của nhiều các nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước cùng đông đảo thầy và trò Trường Đại học Văn hóa và các Trường Đại học khác.
Trân trọng kính mời các nhà văn nhà thơ, các độc giả yêu thơ đến tham dự Ngày thơ Việt nam của Khoa Viết văn.
Thời gian: 14h00 ngày thứ Bẩy, mùng 4 tháng 2 (tức 13 tháng Giêng) năm 2012.
Địa điểm: Khuôn viên Khoa Viết văn- Đại học Văn hóa Hà Nội- 418 đường La Thành - Hà Nội.
Rất hân hạnh được đón tiếp!
T/M BCN Khoa
Nhà văn Văn Giá

PHẠM XUÂN NGUYÊN: TÔI LỚN LÊN TỪ ĐỒNG LÀNG


Tôi không phải “sinh ra từ nông thôn, bố mẹ tôi là nông dân” như nhân vật Nhâm trong thiên truyện nổi tiếng “Thương nhớ đồng quê” của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhưng tôi đích thực lớn lên từ đồng làng và nhờ đồng làng mà tôi nên người.
Nhà LLPBVH Phạm Xuân Nguyên xuống đường (không phải xuống đồng)

Vốn là gia đình tôi sống ở thị xã Hà Tĩnh, cha tôi là viên chức nên cả nhà ăn gạo phiếu. Đầu thập niên 1960 khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bắt đầu ở miền Bắc, mọi người dân ở các phố thị đều phải sơ tán về nông thôn. Cả nhà tôi chuyển về quê mẹ ở xã Thạch Linh huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh).
Nói là sơ tán để tránh bom đạn đánh vào các mục tiêu ở thành thị nhưng kỳ thực nơi nhà tôi ở chỉ cách thị xã có vài cây số. Nơi sơ tán vẫn là nông thôn với phong cảnh và đời sống đặc trưng là ruộng lúa bờ tre, trâu bò gà lợn, củ khoai hạt lúa, hợp tác xã viên, cấy cày gieo gặt...
Thuở ấy, ngót bốn mươi năm trước, nông thôn còn giữ được cơ bản cảnh sắc của làng quê Việt Nam. Tôi nhớ mãi đến bây giờ hai ấn tượng khi cả nhà mới dọn về quê mẹ, còn ở nhờ trong nhà người cậu. Đầu tiên là có một anh lớn hàng xóm đã trèo lên cây cau bắt ổ chim chặt rặt (chim sẻ) xuống tặng cho tôi. Ổ chim lót rơm có những con chim non chíp chiu há mỏ khiến tôi ngơ ngác, ngạc nhiên.
Và rồi tôi đã tập trèo cau và trèo được để có cho mình cảm giác đung đưa theo thân cau, cảm giác hồi hộp run run khi cho tay vào ổ chim, cả cảm giác hồn nhiên tội lỗi phá mất tổ của bầy chim ngây thơ. Kỹ năng trèo cau ấy tôi giữ được đến tận bây giờ. Trong một cuộc uống bia ở quán Bầu Bạn (Cầu Giấy) tôi đã “trổ tài” trèo không nài lên một cây cau cao khoảng ba mét hái cả buồng cau xuống chia cho bạn bè. Đó là ấn tượng thứ nhất.
Ấn tượng thứ hai là lần đầu tôi được o (cô) Thìn cho theo dắt trâu ra đồng. Để trâu ăn cỏ tự do, o dẫn tôi đi bắt dam (cua đồng) bằng cách giẫm mạnh chân trên bờ ruộng nước thế là dam trong lỗ bò ra, dam mén dam nậy (cua nhỏ cua to) lúc nhúc, chỉ việc bắt bỏ vào oi (giỏ). Ôi, cái thời ruộng đồng còn nhiều tôm cá ốc ếch lươn cua và con người sống tự nhiên bằng sản vật của trời đất!
O Thìn đưa cho tôi cầm cái chạc mũi (dây thừng buộc vào mũi trâu để chăn), bất ngờ con trâu, đúng ra là con nghé, lồng lên, giật phăng cái dây trong tay tôi làm tôi ngã ngửa và nó phóng vọt qua người. Hú vía! Nhưng cú ngã này xuống đất ruộng đã cho tôi sống cuộc đời người nông dân.
Tôi khi ấy đang vào tuổi thiếu niên, cái tuổi hình thành sức vóc cơ thể và tâm trí tình cảm. Tự nhiên là tôi hòa mình vào cuộc sống đồng ruộng thôn quê cùng với bà con nông dân, trực tiếp là với các bạn học trong thôn làng từ lớp mẫu giáo vỡ lòng trở đi.
Con nhà ăn gạo phiếu, ngày ngày chỉ việc học hành, không đến lớp thì chỉ ở nhà vui chơi, làm những việc vặt trong nhà, chẳng phải lo việc đồng áng cùng bố mẹ, không phải thức khuya dậy sớm chăn trâu bò ra đồng hay băm bèo trộn cám cho lợn ăn, không phải gắng sức gánh gồng khoai lúa ngoài đồng về nhà hay phân chuồng từ nhà ra đồng. Nhưng tôi đã tự coi mình như con cái nông dân và tập làm lụng, lao động như một người nông dân thực thụ.
Tôi theo bạn bè và cha mẹ họ ra đồng, tập làm những công việc đồng áng. Dùng liềm gặt lúa thế này, bó lúa thành từng lượm thế này để đầu bờ, rồi chất các lượm lúa vào gióng gánh về sân phơi. Gánh lúa đặt lên vai là phải đi một mạch cho tới nơi, không được dừng lại vì dừng lại, đặt gánh xuống nghỉ ngơi, thì theo quán tính những hạt lúa từ bông sẽ bị văng ra rụng xuống. Bới (dỡ) khoai thì dùng cuốc hoặc cào tư (bốn răng) cào sáu (sáu răng) khéo léo bổ vào vồng (luống) khoai sao cho khi kéo ra thì đất vỡ để lộ những dây khoai nhiều củ mà không củ nào bị răng cào đâm vào làm nát. Bới lạc thì phải lay gốc lạc cho đến khi kéo lên dễ dàng khỏi mặt đất không bị đứt rễ củ nào, nếu giật mạnh ngay thì là mất hết củ.
Tôi đã lớn dần lên trong thời chiến tranh trên ruộng đồng của một làng quê nghèo như vậy. Buổi đầu gánh chưa quen, vai đau nhừ, đòn gánh liên tục đổi vai, đi một quãng ngắn mà tưởng như dài vạn dặm. Dần rồi quen, mức nặng của từng gánh cứ tăng lên, nhất là mỗi khi gánh phân chuồng ra nộp hợp tác xã.
Nhà tôi không nuôi lợn vì không làm nông, không phải lấy phân bón ruộng. Tôi đến nhà bạn gánh cùng, gánh giúp, đua nhau gánh tăng cân, cho đến khi tôi gánh năm chục cân thấy nhẹ nhàng, bước đi thoải mái không phải chạy gằn nữa. Bà con thôn xóm trong đội sản xuất thấy tôi theo việc nhà nông như vậy đã đề nghị ông đội trưởng mở cho tôi một cuốn sổ xã viên, cũng ghi công điểm những việc tôi làm, đến mùa cũng chia lúa chia khoai cho tôi theo công điểm.
Ra thắp hương cho cha mẹ tôi lại được đứng giữa đồng, xõa mái tóc đã bạc phần nhiều cho gió đồng thổi bay mà ngậm ngùi hoài niệm.
Cánh đồng đã mở ra cho tôi thấy sức sống của người nông dân, cho tôi hiểu biết đời sống của nông thôn. Tôi còn cực đoan nông dân hơn nhiều bạn bè nông thôn. Hồi ấy thời chiến áo quần chủ yếu màu sẫm để ngụy trang. Học sinh thỉnh thoảng có được miếng vải sáng màu may quần may áo thì rất thích. Tôi trái lại, con nhà thị xã không phải phơi nắng phơi mưa có thể diện đồ may bằng vải mua phiếu cung cấp, nhưng tôi lại chơi một chiếc áo cánh nu (nâu). Tôi mặc riết nó đến sờn vai bạc màu, cả khi đi học cũng như đi phố, ra đồng, lại kèm theo một chiếc nón nhỏ trên đầu, khiến cho ngay từ khi tuổi nhỏ tôi đã nhiều lần bị nhầm gọi là “ông”.
Trong nhật ký học sinh tôi còn ghi lại mấy câu vần cảm thán mình: Tôi chưa già ai cũng gọi bằng ông/Vì màu áo nâu sồng dân dã/Người chưa quen cứ nhìn tôi rất lạ/Người quen rồi vẫn không khỏi ngạc nhiên... Có thể gọi đó là một thứ “gàn” cũng được. Nhưng càng lớn tôi càng nhận thấy đằng sau sự bình lặng, yên ả của làng mạc thôn quê ruộng đồng, có những nỗi niềm chất chứa. Tôi ra ruộng làm vì ý thích của mình, còn những người nông dân đầu tắt mặt tối trên đồng quanh năm suốt tháng là vì miếng cơm manh áo.
Tôi bây giờ về quê buồn vui lẫn lộn. Xã Thạch Linh ngày trước nay đã một nửa lên phố. Mộ cha mẹ tôi vẫn nằm ở giữa đồng làng, bên những thửa ruộng ngày càng thu hẹp lại vì tốc độ mở mang đường sá và xây dựng nhà cửa trong giấc mơ đô thị đổi đời. Mỗi lần về quê tôi vẫn thích bước chân trên con đường làng còn bóng tre, đi ra ngoài cánh đồng còn cây lúa, để cho ký ức kéo mình ngược lại những tháng ngày tuổi nhỏ...
Phạm Xuân Nguyên