.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Saturday, August 4, 2012

NGHĨ VỀ DI-CẢO MẤY NGÀN TRANG CỦA MỘT NHÀ THƠ YỂU MỆNH

Nhà thơ Nh.Tay Ngàn (tên thật, Nguyễn Văn Nhĩ, sinh năm 1943 tại Trà Vinh, mất năm 1978 tại Paris), du học tại Pháp từ năm 1965, có một số thơ đăng trong Tạp chí Văn trước 1975 ở Sài gòn. Thơ của Nh. Tay Ngàn có nhiều bài khó hiểu. Theo bài viết của nhà thơ Thi Vũ, chủ biên Tạp chí “Quê Mẹ” ở Paris sau năm 1975, thì nhà thơ Nh. Tay Ngàn còn để lại di-cảo khoảng 4 ngàn trang, viết bằng nét chữ nhỏ và cẩn thận, đóng thành 20 tập mà chính nhà thơ nhà báo Thi Vũ đã có thấy tại nhà thân nhân Nh. Tay Ngàn.
Căn cứ vào thủ bút nhà thơ Nh. Tay Ngàn, ta cũng nhận ra chữ viết nhỏ đều đặn của nhà thơ, điều đó có nghĩa là di-cảo chứa đựng rất nhiều, phải có nguồn cảm hứng dồi dào mới viết được chừng ất trang giấy (Bài viết của ông Thi Vũ kèm với thủ bút của Nh. Tay Ngàn đăng trên mạng “gio.o”, nhan đề: “Nh. Tay Ngàn, Lập Lòe Trí Nhớ”). Nh. Tay Ngàn cũng có một thời gian ở trong nhà thương người bị bệnh tâm thần tại Paris và cái chết thật buồn do nhà thơ Thi Vũ kể lại như sau: “Đầu tháng Giêng 1978, các bạn của Nhĩ gọi cho biết Nhĩ chết rồi. Một hôm, bà gác-dan (concierge) thấy mấy ngày qua Nhĩ không ghé lấy thư. Bà lên đập cửa phòng. Không nghe hồi đáp, bà lo lắng mở cửa xem thì Nhĩ đã nằm chết trên giường nhiều ngày”.
Nghĩ về nhà thơ này, ta không khỏi liên hệ đến thơ có nhiều câu khó hiểu mà theo ông Thi Vũ thì từ ngữ Nh.Tay Ngàn không là chữ nghĩa; liên hệ đến đời sống từng bị nhốt trong bệnh viện tâm thần ở Paris; liên hệ đến nguồn cảm hứng viết được mấy ngàn trang bản thảo (ta tin rằng ông Thi Vũ không nói quá điều này mà viết với lòng thành kể lại cái gì ông đã thấy, kể chi tiết về Nh.Tay Ngàn như để tạ lỗi “lời hứa in thơ” rồi không thể in một tập văn thơ nào cho Nh.Tay Nhàn lúc sinh thời). Ta cũng liên hệ đến nỗi bất mãn của Nh. Tay Ngàn về Văn học Miền Nam trước 1975 và bất mãn luôn Nhóm Tự Lực Văn Đoàn thời trước 1945. Lúc ấy, Nh. Tay Ngàn vừa trẻ vừa không có thành tích văn nghệ gì lớn mà dám phê bình văn nghệ lớp đàn anh như vậy, có phải Nh.Tay Ngàn nói hồ đồ hay nhà thơ đã hé thấy một ánh sáng nào đó? Và tiếp theo, ta liên hệ đến sự kinh qua thảm khốc từ thời thiếu niên; Nh. Tay Ngàn đã chứng kiến người cha theo kháng chiến bị Pháp bắn vào đầu nằm chết trên đồng; chính Nh.Tay Ngàn hốt khối óc bầy nhầy bỏ vào đầu cha khi quân Pháp bỏ đi. Kể những điều đặc biệt liên hệ đến Nh.Tay Ngàn như vậy, có nghĩa là ngươi viết bài xin tự đặt giới hạn khi có đôi lời nhận định về thơ Nh. Tay Ngàn. Những giới hạn đó là: Sẽ không nhận định như đã thấy Nh.Tay Ngàn “một thiên tài chưa được người đời hiểu thấu”; sẽ tránh con đường tìm hiểu thơ Nh. Tay Ngàn không phải do từ ngữ chữ nghĩa mà từ ngữ thuộc “dụng cụ thăm dò cõi vô thức” (theo Thi Vũ). Ta cũng không giả định phải chăng với vận số ngắn chỉ 35 tuổi đời mà tác phẩm còn tàng ẩn đến 4 ngàn trang thì có thể đây là một trường hợp tái sinh đầu thai từ một tiền kiếp, nhất là khi Nh. Tay Ngàn được sinh ra từ vùng có nhiều chùa chiền Phật Giáo Tiểu Thừa ở Trà Vinh. Và ta cũng đừng coi Nh. Tay Ngàn lại là một trường hợp “phản kháng triết lý” như Phạm Công Thiện đã từng lớn tiếng khinh chê gần hết triết học thế giới, vì Nh.Tay Ngàn cũng từng chê Văn Học Miền Nam và Tự Lực Văn Đoàn. Phạm Công Thiện lớn tiếng có tính cách triết lý siêu hình, còn Nh. Tay Ngàn phát biểu hơi “vượt quá” như vậy phải chăng vì thấy mình từng trải hơn đời về sự mất mát đau khổ chiến tranh, ngay từ tuổi thiếu niên. Tổng quát, ta thoáng thấy có những điều khá đặc biệt về đời sống và sáng tác của Nh. Tay Ngàn. Đó là những bài thơ khó hiểu mà ông Thi Vũ gọi là từ ngữ không thuộc về chữ nghĩa. Đó là mối tình quá sâu đậm với một thiếu nữ đã chết tên Liên khiến Nh. Tay Ngàn viết một bài thơ trường thiên 253 câu với vô số lần nhắc tới tên Liên; thơ tâm sự với người yêu đã chết mà từ ngữ cũng khá tối tăm khó hiểu. Đó là di-cảo 4 ngàn trang chi chít những chữ. Đó là cuộc sống có một thời gian bị bỏ vào nhà thương điên ở Paris. Đó là một mảnh đời chật vật khó khăn tại Pháp nhưng rất gắn bó với sáng tác văn thơ Việt, có lần trở về Việt Nam tính chuyện in ấn thơ truyện. Như vậy, Nh. Tay Ngàn thể hiện một trường hợp cũng đời thường mà cũng hàm chứa những bất thường của một người đặc biệt nào đó. Có phải Nh. Tay Ngàn là trường hợp luân hồi tái sinh từ tiền kiếp; hay chỉ như một thi sĩ đam mê sáng tác mong được có thi phẩm cho đời như bao nhiêu người khác. Người viết bài xin tự giới hạn chỉ nhận định khía cạnh cảm thức thơ theo cảm quan thông thường có tính chất sắc tướng hữu hình, nên sẽ không cố gắng tìm hiểu thơ Nh. Tay Ngàn như “dụng cụ thăm dò vô thức” hay “có mắt xanh với tấm lòng rớm máu thì mới cùng Nhĩ song thoại trong thế giới vốn nhỏ và hạt bụi muốn đau” (Thi Vũ). Quả thật thơ của Nh. Tay Ngàn khó hiểu, đúng là cần phải vận dụng tâm thức siêu hình nào đó thì mới biết những ẩn tàng tác giả muốn nói ra. Xin trích ra một vài đoạn thơ của Nh. Tay Ngàn để ta thoáng cảm thức có cái gì tối tăm siêu thực như những điều ông Thi Vũ đã nhận định. Chỉ thoáng cảm nhận cái khó hiểu ấy mà thôi, dĩ nhiên không đi sâu vào thăm dò, vì sự thật ta không biết cách nào để thăm dò. Chưa hiểu gì, nhưng có lẽ người đọc cũng thấy một vẻ gì đó thuộc về ảo diệu thi ca:

… Dù sáu đời còn ba bốn tờ dạ khúc
Trên rừng lá phủ mưa
… Giữa bốn bức tường tôi thấy cái chết áo đen
Sự thèm muốn mỗi chiều đời xuống sâu hỏa ngục
… Hình ảnh cô ca sĩ da đen
Không nhớ Phi Châu lúc con đồi mồi ngủ nơi biển cạn
(Trích bài: Thành Phố Chim Hồng)

… Nhưng tiếng người đã sa vào núi mệnh
Vì chiều đi lất phất nước trên trời
… nơi phía đông Đá Dựng hỏi cây kè hồ ly ẩn
Gọi là gì người Thiên Mệnh máu xanh
… Một dòng nước Jucar tìm đâu hết chấn động cũ
Rồi chia ba với cảnh quyên gầy
(Trích bài: tiếng phút sầu! rồi nay cõi lú)

… Về cõi sâu không phải hố thẳm Vodong
Để tà xế là nơi quạ ngủ
… Thổi gió ráo giữa trưa kêu ve sầu riêng lẻ
Mình mình em qua bảy dốc cầu điềm
… Từ đây ván thô kèm hai mắt đục
Cạo mặt trời hết tóc còn bay
(Trích bài: trời ơi thiền! ngờ đâu cơm đời)

… Sau buổi chiều Liên chết bơ vơ
Sau con đường Trà Vinh ngày ấy đổ tối
Những mộng tưởng về phượng hoàng đất dương gian
Trở thành cỏ hoang trên lâu đài nến cháy
… Ước áo vàng sẽ về đây thành cội rễ
Mấy phôi pha làm lại nước huyễn châu
(Trích bài: Nỗi Liên Đen Tối Vô Cùng)
Trích một số câu thơ khó hiểu như trên, ta không có ý định sẽ đi vào phân tích siêu thực, hay dò tìm vô thức, hay trực cảm phát giác thiên tài, hay đề nghị tra vấn tiền kiếp tái sinh. Cũng không phải giả định tác giả làm thơ “hũ nút” để làm người đọc nể sợ dè chừng nghĩ rằng họ chưa tới trình độ thẩm thấu. Tác giả từ Paris trở về nước tìm cách in thi phẩm thì thật trang trọng với thơ, với công trình mình sáng tác, không thể nghĩ tác giả viết giả những điều mù mịt để dối mình dối người. Theo thiển nghĩ thì còn rất nhiều những câu thơ vừa tối nghĩa vừa không gợi được chất thơ gì đó, không như những câu thơ lấp lánh trích dẫn ở trên. Điều ta lưu ý, đó là những câu thơ tuy một chút mờ nghĩa, nhưng đạt tới chất thơ theo ba cảm thức sau đây: Gợi cảm về mùa đông Paris - Gợi cảm hồn quê Trà Vinh của tác giả - Gợi cảm nỗi đau người yêu không còn trên thế gian. Như vậy, thơ Nh. Tay Ngàn mà người viết bài muốn đề cập đến ở đây giới hạn ở cảm thức sắc tướng không gian hơn là siêu hình; giới hại ở cảm thức tình quê hương bình thường; giới hạn ở cảm thức chuyện tình đôi lứa tuy dằng dặc niềm đau nhưng vẫn là sầu bi nhân thế. Độc giả có thể tìm đọc một số thơ của Nh. Tay Ngàn trên mạng “gio.o” và một bài thơ tình rất dài trong “Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến”, tập II (nhà xb. Thư Ấn Quán). Trước hết, ta đi vào cảm thức những câu thơ với không gian mùa đông Paris. Nhà thơ Nh. Tay Ngàn du học tại Pháp từ năm 1965, có một đời sống chật vật ở đây, và học ngành “họa đồ kỹ nghệ” (thành đạt hay chưa, không có thêm chi tiết trong bài “Nh. Tay Ngàn, Lập Lòe Trí Nhớ” của Thi Vũ). Phản ánh vào thơ Nh.Tay Ngàn, ta thấy thiếu vắng một Paris tình vui như trong thơ Nguyên Sa; nhưng cũng có một vòm trời nước Pháp thơ mộng như trong thơ Cung Trầm Tưởng; và vài nét tương tự về một Paris phảng phất triết học văn học như trong thơ Phạm Công Thiện:

… Tôi về mùa thu giữa lá Paris đau
Có phải bông mai chỉ nở ngoài tất cả cánh cửa ngục tù
Hỡi bãi chim rụng đầy lông trắng
Tôi về mùa lá rơi
… Cơn mây cứ chiều chiều Paris khói
Hình cô sinh viên buổi tối ngắm đèn
(Trích bài: thành phố chim hồng)

Anh đi tìm em mất dấu
Thành phố nào vô danh
Những dẫy lầu độc thoại
Bỏ rơi anh ngoại ô
… Anh bắt anh phải sống
từ ngữ đá hoa cương
…nửa đêm tàu khởi hành
giục còi gọi mùa thu
(Trích bài: đoản ca mùa thu)

Về khía cạnh bình thường nữa mà ta cảm thức từ thơ Nh. Tay Ngàn, là dăm ba câu về quê hương Trà Vinh của nhà thơ. Quê hương này chỉ đôi nét thấp thoáng trong thơ Nh. Tay Ngàn. Nhưng ta biết nơi đây đượm màu sắc siêu hình của nơi chốn nhiều chùa chiền Phật Giáo Tiểu Thừa, nhất là những chùa vàng của người Khơ-Me. Chính từ nơi sinh quán của Nh. Tay Ngàn, nơi quy tụ gần như đồng đều người Việt người Hoa người Khơ Me với tín ngưỡng đôi chút dị biệt Tiểu Thừa Đại Thừa; với không gian đi đâu cũng thấy cảnh chùa có nét vừa chung vừa riêng của ba cộng đồng cư trú.Từ những đượm vẻ huyền ảo đó mà ta chợt liên tưởng đến thuyết luân hồi tái sinh. Chỉ liên tưởng thoáng qua, ta tránh không đi sâu vào thăm dò hư thực. Mà cũng không cách nào thăm dò được khi cảm thức của ta chỉ là cảm thức sắc tướng thiên về cụ thể. Xin nhắc lại thắc mắc đưa tới ý nghĩ về tiền kiếp tái sinh: làm sao với tuổi đời chỉ có 35 mà nhà thơ Nh. Tay Ngàn dồi dào nguồn cảm hứng viết được đến bốn ngàn trang bản thảo chữ chi chit trong 20 tập giấy? Ngày nay, qua internet, ta thấy rõ có những thần đồng nói được nhiều thứ tiếng, sau khi chỉ cần vài lần nghe phát ngôn. Học một mà lại biết mười: chỉ với cách ấy mới giải đáp được thắc mắc tại sao có thần đồng âm nhạc, thần đồng toán học, thần đồng ngôn ngữ… Ngày xưa, thiếu chứng kiến qua internet, ta bán tín bán nghi với giai thoại nhà thông thái Trương Vĩnh Ký nói được cả tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha… Ngày xưa, dù với tài liệu có uy tín còn để lại, vậy mà ta vẫn hoài nghi làm sao có thần đồng điều khiển được cả một giàn nhạc giao hưởng bên trời Âu. Về cảm thức tình quê trong thơ Nh.Tay Ngàn, ta thử nêu ra một so sánh. Ví dụ có dịp làm du khách thăm viếng Chùa Dơi SócTrăng: ta biết đêm đêm dơi về ngủ trong khuôn viên chùa và không bao giờ ngủ trong nhà dân ở quanh chùa; ta biết hiện tượng như thế mà thôi; không thắc mắc siêu hình về nguyên nhân nào loài dơi có sự lựa chọn như vậy. Ta cảm thức thơ quê hương của Nh. Tay Ngàn cũng chừng ấy những cảm nhận thiên về hiện tượng, dù có những lời thơ khá mờ tối ý nghĩa:

Tôi nhớ cố hương khi tiếng gà réo rít
Liên và cánh dơi Trà Vinh
Xuống mịt mùng đời tôi khi con thuyền chìm trong bão
Giữ mấy phút hư vô reo lên
Lâu đài đầy quạ khoang bên vàm liêu tịch
… Nơi Liên đã khóc đêm ngày
Trong mười hai năm Trà Vinh đầy quạ
… Có phải chim Việt bay hoài trên màu hư-không tắt
Mỗi chiều đông cuối chân mây
Gợi quê hương mình bằng đêm móng nhọn
Đổi màu trên những hình hài
(Trích bài: Nỗi Liên Đen Tối Vô Cùng)  
Ở thơ tình của Nh.Tay Ngàn, chỉ có niềm đau, đau vì người yêu không còn nữa trên thế gian. Nh. Tay Ngàn có một bài thơ dài “Nỗi Liên Đen Tối Vô Cùng”, gần như toàn là lời nói vào mịt mùng để vọng thấu đến người con gái đã mất tên Liên. Trong đó loáng thoáng dấu vết thời thế những năm khói lửa kháng chiến chống Pháp qua câu thơ “Đùa gió Tháp Mười sang Cửu Long đầy máu”, tuy nhiên không thấy nói rõ Liên chết vì nguyên nhân nào. Nội dung bài thơ dằng dặc lời tâm sự với người đã chết, nhưng ý tưởng nhiều câu mơ hồ không rõ nghĩa. Có thể nói, mặc dù Nh. Tay Ngàn từ Paris gửi bài thơ về Sài Gòn đăng trong Tạp chí Văn thời ông Trần Phong Giao làm chủ bút, nhưng thơ Nh. Tay Ngàn có lẽ không phải từ một đột khởi sáng tạo. Thơ của Nh. Tay Ngàn vẫn nằm trong khuynh hướng văn chương tân kỳ khởi từ tờ Tạp chí Sáng Tạo ở Miền Nam sau năm 1956, nhưng không nghiêng về khuynh hướng Nguyên Sa mà nghiêng về khuynh hướng thơ mờ tối của Thanh Tâm Tuyền. Từ chủ quan cảm nghĩ như vậy, ta để qua một bên những gợi ý có thể thơ Nh.Tay Ngàn thuộc về Thơ Siêu Thực, thuộc về Ẩn Chứa Vô Thức; hoặc khả hữu có Dấu Hiệu Tiền Kiếp Tái Sinh. Vậy xin trích dẫn điển hình hai đoạn thơ hay của Nh.Tay Ngàn; với chất thơ có được do còn nằm giới hạn nơi tình cảm đời thường của đôi lứa ngày xa nhau; và chất thơ có được do biết vận dụng từ ngữ ma lực làm thành những câu thơ đẹp tân kỳ:

… Sau buổi chiều Liên chết bơ vơ
Sau con đường Trà Vinh ngày đổ tối
Những mộng tưởng về phượng hoàng đất dương gian
Trở thành cỏ hoang trên lâu đài nến cháy
(Trích bài: Nỗi Liên Đen Tối Vô Cùng)

... Chim cú cũ có lần thành ba con nhạn
Rời rời về rừng giữa mặt trời cao
Ai có nhớ cô Liên về hoàng tộc
Đường lê thê tôi gỡ phiến da mình
(Trích bài: trời ơi thiền! ngờ đâu cơm đời).

City of Walnut, California, tháng 4 năm 2012
(Trích Tạp chí “Thư Quán Bản Thảo”, số 52, tháng 6/2012)
TRẦN VĂN NAM

KHI NGƯỜI TÀU NGHIÊN CỨU VỀ VIỆT NAM

Tạp Chí Hán Nôm do Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia Việt Nam xuất bản, số 1 (18), ấn hành năm 1994, có đăng bài “Trung Quốc Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam” của Nguyễn văn Hồng. Trong bài này tác giả đã tường thuật lại chuyến đi Trung Quốc vào giữa năm 1993 của ông nhằm “tham quan trao đổi và giảng dạy lích sử ở 4 trường: Đại Học Bắc Kinh, Đại Học Nam Khai, Đại Học Sơn Đông và Đại Học Tinh Châu”. Nhưng trọng tâm của bài báo, đúng như nhan đề tác giả đã lựa chọn là công cuộc nghiên cứu lịch sử Việt Nam ở nước Tàu.

Bình thường việc người Tàu nghiên cứu hay viết về Việt nam là một việc làm bình thường, không có gì đáng chú ý vì nước Tàu và nước ta là hai nước kế cận nhau, Việt Nam bị Tàu đô hộ cả ngàn năm và đã hấp thụ văn hóa Tàu một cách sâu đậm, Việt Nam lại nằm án ngữ ngay trên con đường Nam tiến của người Tàu…, nhưng thời điểm mà người Tàu đẩy mạnh công tác nghiên cứu về Việt Nam nhằm những mục đính riêng của họ là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Thời điểm đó là năm 1978. Tác giả viết như sau:

“Công việc này (tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính) mới trở lại từ năm 1978 khi nhu cầu nghiên cứu khu vực và kinh nghiệm phát triển đặt thành vấn đề thời sự quan trọng nhất trong chính sách của Trung Quốc.”

Năm 1978 là năm bang giao giữa hai nước đã vô cùng căng thẳng để đến đầu năm sau chiến tranh đã bùng nổ.  Sự đẩy mạnh công tác nghiên cứu như vậy không phải là do nhu cầu phát triển văn hóa thuần túy mà là chánh trị. Đó là một nhu cầu tự nhiên do tình thế đòi hỏi. Nhưng vì nó được thực hiện bởi những người làm công tác văn hóa nên ảnh hưởng về văn hóa nói chung và về sự hiểu biết có tính cách khoa học nói riêng của các nhà nghiên cứu và của quần chúng chắc chắn cũng bị ảnh hưởng. Lý do rất đơn giản: vì nhu cầu chính trị, người ta có thể làm đủ thứ từ ra lệnh bắt các nhà văn hóa phải làm theo ý của nhà cầm quyền đến việc ngụy tạo các chứng từ, tài liệu hay nhẹ nhàng hơn là dùng quyền lợi để mua chuộc. Điều người ta hy vọng là chuyện này đã và sẽ không xảy ra cũng như những gì người Tàu đã làm ở các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với hàng trăm học giả và những con số về các đồ cổ tìm được.

Trong bản tường trình, Nguyễn Văn Hồng có đề cập tới năm phạm vi hoạt động của các học giả Trung Quốc. Năm phạm vi đó là nghiên cứu, tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính tài liệu, phiên dịch các công trình của các học giả Việt Nam sang chữ Hán, nghiên cứu và sưu tập các tài liệu về lịch sử cận đại và hiện đại, và cuối cùng là phát triển đội ngũ nghiên cứu Việt Nam. Trong phạm vi sau này, ông cho biết “đội ngũ nghiên cứu Việt Nam đông đến hàng trăm. Chỉ riêng Hà Nam cũng có khoảng 100. Quảng Tây, Quảng Đông chắc chắn đông hơn” và kết luận rằng “Trung Quốc đang bước vào giai đoạn nghiên cứu Việt nam một cách cơ bản, sâu rộng và tự tin. Họ thường nhắc đến những ưu thế ngôn ngữ, tư liệu nghiên cứu và mượn lời học giả Mỹ và Âu Châu nói: ‘Nếu các học giả Việt Nam không chuẩn bị đầy đủ trình độ chữ Hán để nghiên  cứu cổ sử Việt Nam một cách bảo đảm thì vài năm sau chúng tôi sẽ đến Trung Quốc, Nhật Bản nghiên cứu về Việt Nam’. Đó là một lời khuyên, một lời cảnh tỉnh đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam.”

Tất nhiên là về tài liệu và sự hiểu biết về văn tự liên hệ tới cổ sử Việt nam, ở một giới hạn nào đó, người Tàu có thể có nhiều ưu thế hơn người Việt. Họ có nhân sự dồi dào, lại được hưởng thanh bình ít ra là từ năm 1949 và được sự hỗ trợ của một lực lượng người Tàu ở Hải ngoại đã từ lâu bám rễ ở các nước có truyền thống nghiên cứu khoa học, trong đó có Hoa Kỳ. Những thành quả của các công trình nghiên cứu của họ chắc chắn phải được các học giả Việt nam lưu tâm theo dõi. Tuy nhiên, nếu chúng ta thiếu tự tin để đến chỗ bị choáng ngộp vì tư thế một nước lớn là nước Tàu thì đó là một điều cần được xét lại, kể cả những gì liên hệ đến chữ Hán, văn tự của chính người Tàu.

Trong phần nói tới phạm vi tập hợp, biên soạn và chú giải, hiệu đính, tác giả viết: “Về sách chữ Hán của Việt Nam như An Nam Chí Lược, Lĩnh Nam Chích Quái, Gia Định Thông Chí, Mạc Thị Gia Phả, học giả Trung Quốc đã chú giải rất kỹ, in lại rất chuẩn, đính chính các lỗi in và cả kiến thức sai. Họ phát hiện và nói với chúng tôi sách Việt Nam in sai và dịch sai khá nhiều, nhất là sách của Saigon cũ.” Ngưởi đọc hy vọng đây chỉ là một sự tường trình sơ khởi và tác giả chưa đọc kỹ những tài liệu này. Lý do là vì đây là một vấn đề vô cùng phức tạp dẫn xuất từ sự khác biệt trong sinh hoạt văn hoá, từ đó văn tự, của ngưòi Việt và người Tàu, không chỉ riêng từ khi Việt Nam tách rời khỏi Trung Quốc, trở thành một nước độc lập mà có thể ngay từ thời nước ta còn lệ thuộc vào Trung Quốc. Trong thời gian còn lệ thuộc đó, vì núi sông cách trở, đường xá xa xôi, tiếng nói bất đồng, sự tiếp xúc giữa người bản xứ và người Tàu hời hợt, những gì được ghi trong sách của người Việt không thể luôn luôn có cùng nghĩa với những gì được ghi trong sách của người Trung Quốc. Cũng vậy, trong cách sử dụng chữ Hán của người Việt, trong cách ngắt câu chẳng hạn. Điều này rất dễ chứng minh nếu người ta để ý tới sự khác biệt trong cách sử dụng chính tiếng của người Tàu giữa người Tàu ở Đài Loan và người Tàu ở Hoa Lục. Cùng dùng tiếng phổ thổng (phổ thông thoại ở Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc và quốc ngữ ở Đài Loan) mà từ vựng ở hai nơi đã khác biệt nhiều do những liên hệ xã hội không giống nhau gây ra, đồng thời về văn phạm người ta cũng ghi nhận hàng trăm điểm bất đồng. Tình trạng cũng giống như ở Việt Nam giữa hai miền Bắc và Nam thời trưuớc năm 1975 và giữa người Việt ở Hải Ngoại và người Việt ở trong nước hiện tại. Cũng vậy, với lối văn cổ và bạch thoại, với tiếng Bắc Kinh và tiếng phổ thông dùng bởi người Bắc Kinh và bởi người nói các thổ ngữ khác ỏ Trung Hoa.

Một vấn đề khác cũng cần phải được đặt ra là ai là những người chuyên môn về tiếng Việt trong đội ngũ nghiên cứu về Việt Nam của người Tàu? Họ đã được đào tạo ở đâu và đào tạo như thế nào? Đây cũng là vấn đề then chốt vì ở một đoạn trên đó tác giả bài tường trình có viết về lợi thế của Trung Quốc là “cũng biết sử dụng nguồn trí thức Hoa Kiều ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam.” Điều này chúng ta cũng cần phải xét lại. Có hai lý do: thứ nhất là người Tàu ở Việt Nam ít chú trọng tới văn hóa, giáo dục của người bản xứ. Họ lưu tâm tới kinh tế, thương mại nhiều hơn. Những người Tàu được sử dụng vào việc nghiên cứu, dịch thuật, chú giải kể trên thuộc thành phần nào? Họ có được huấn luyện kỹ càng về ngôn ngữ, văn hoá và lịch sử Việt Nam hay không? ở cấp bậc nào? và ở đâu? Chưa hết. Ngay trong phạm vi chữ Hán, chữ của chính người Tàu, người Tàu cũng khó có thể nói là thông thạo. Họ có thể hiểu được, đọc được nhưng đó là thứ bạch thoại được dạy ở các trường ngày nay, dùng trong đời sống hàng ngày, trong hành chánh nhát là trong thương mại…Đối với các sách cổ trong đó cách hành văn, cách sử dụng ngôn từ hoàn toàn khác. Những người Tàu trước kia ở Việt Nam nói được tiếng Việt, nói được tiếng Trung Hoa phổ thông có chắc hiểu thấu đáo, từ đó ngắt câu chính xác và hiệu đính được các bản văn cổ hay không? Đó lại là một chuyện khác. Trong các tác phẩm dịch từ chữ Hán của người Việt “ở Saigon cũ”, tác giả có nói tới An Nam Chí Lược. Bản dịch của bộ sử này là do Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu Việt Nam của Viện Đại Học Huế thực hiện với sự góp phần của Giáo Sư Trần Kinh Hòa của Đại Học Hồng Kông. Hy vọng “những lỗi in và  cả kiến thức sai và dịch sai” không được thấy trong tài liệu này. Cũng vậy với các bản dịch các sách cổ khác của người Việt  mà dịch giả là các cử nhân, tiến sĩ Hán học thời xưa như Cụ Nghè Nguyễn Sĩ Giác, các Cụ Cử Thẩm Quỳnh, Bùi Tấn Niên, Ngô Mạnh Nghinh, Nguyễn Văn Bình hay những chuyên viên có uy tín như Bửu Cầm, Tạ Quang Phát… Điều nên biết là các “sách của Saigon cũ”, người viết muốn nói tới các bản dịch, đều được thực hiện và ấn hành một cách nghiêm túc và với tinh thần trách nhiệm của người dịch. Người ta đã không chỉ in phần dịch nghĩa không thôi mà luôn cả nguyên bản chữ Hán và phiên âm tiếng Việt để độc giả có thể đối chiếu mỗi khi có điều nghi ngờ hay góp phần điều chỉnh.

Bài tường trình của Nguyễn Văn Hồng trên Tạp Chí Hán Nôm dù muốn hay không mới chỉ là một bài tường trình, tác giả viết để trình bày lại với độc giả những gì ông được nhìn thấy và nghe thấy những chưa được phối kiểm. Nhưng dù muốn, dù không nó vẫn có thể làm thay đổi cái nhìn của mọi người, trong đó có chính người Việt vế quá khứ của Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Từ sau khi bị mất nước về tay người Pháp, chúng ta đã hoảng hốt bỏ rơi cái học đã tồn tại từ cả ngàn năm của dân tộc và Hán tự, từ đó đã đã tự cắt đứt chúng ta với quá khứ của chính chúng ta và với các dân tộc láng giềng cùng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và cùng dùng Hán tự là chữ viết trong quá khứ như chúng ta. Trong những chục năm trước đây, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, những gì liên hệ tới văn hóa cổ, tới văn tự cổ là do một số người thuộc thế hệ trước còn sót lại bảo tồn, diễn dịch và truyền lại. Trong hoàn cảnh mới,  với những thế hệ mới, công việc này ai sẽ làm? Và ai làm nổi? là những câu hỏi cần được đặt ra và đặt ra cho cả người Việt ở Hải Ngoại lẫn ngưòi Việt ỏ trong nước./.
PHẠM CAO DƯƠNG
Tập san Định Hướng. Bản của tác giả
Nguồn: VCV

NGƯỜI CÓ THƠ DỰ GIẢI NOBEL VĂN HỌC

Nhà thơ Dương Kỳ Anh: Được giải hay không được giải, đó là số phận của tập thơ. Nhưng, tôi muốn nói đến người thơ trong đó. Khi chúng tôi mới quen nhau, anh đem cho tôi một cái danh thiếp đề tên TS Hoàng Quang Thuận, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông (Thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam).

TP - Ít người biết, có một tập sách mang tên “Thi vân Yên Tử” của một nhà thơ Việt Nam đã được gửi đi dự giải Nobel văn học. Tác giả của nó cũng khá đặc biệt, không nhiều người biết.
Trong công văn của đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Thụy Điển số 62 sqvn _ 2009 đề ngày 28 tháng Tư 2009 gửi Thứ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn Thanh Sơn có ghi :
“Về tập thơ viết về Yên Tử của nhà thơ Hoàng Quang Thuận gửi Viện hàn lâm Thụy Điển để ứng cử giải Nobel văn học, Đại sứ quán xin báo cáo như sau:
Ngày 05 tháng 9 năm 2008, đồng chí Ngô Tiến Long, Tham tán công sứ của Đại sứ quán đã đến Viện hàn lâm Thụy Điển tại Stockholm gặp bà Ulrika Kjellin, trợ lý tổng thư ký Viện Hàn lâm Thụy Điển để trao tập thơ cùng thư giới thiệu của nhà thơ Hữu Thỉnh...”.
Được giải hay không được giải, đó là số phận của tập thơ. Nhưng, tôi muốn nói đến người thơ trong đó. Khi chúng tôi mới quen nhau, anh đem cho tôi một cái danh thiếp đề tên TS Hoàng Quang Thuận, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông (Thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Một người làm khoa học làm thơ! Và hầu hết những bài thơ của anh đều viết về Yên Tử. Lúc đầu, do bận bịu, tôi cũng không đọc hết tập thơ. Khi rỗi rãi hơn, tôi mới biết thả hồn mình trong những bài thơ thiền yên lành cùng cõi Phật.
Sớm cỡi mây, chơi cùng non biếc
Đêm về, bến nghỉ lót trăng nằm.
Tiếng sáo thiền ca, vui bất tận.
Ngập tràn Yên Tử, trăng trong trăng.
Rất thơ, rất đời, rất thiền, cũng rất Yên Tử.
Tôi không biết gì nhiều về anh. Tôi chỉ biết con người anh trong thơ. Tôi thường tâm đắc với câu thơ của một nhà thơ Nga “Anh có thể dối em, thơ anh không thể dối”. Không thể dối người đọc trong thơ. Một người xem ra thanh thản, ung dung như vậy có duyên với đất Phật  là lẽ đương nhiên.
Yên Tử linh thiêng được coi là vùng đất Phật của Việt Nam. Nơi mây trắng bay giữa non xanh nước biếc được nhiều vị vua đời Trần chọn làm nơi Phật ngự.
Anh kể một câu chuyện kỳ lạ, một lần trong đoàn người hành hương, khi đến chân núi thấy một người dân địa phương đang ngồi bên đường bán một xâu rắn, anh nhìn thấy một con rắn có vẻ đẹp khác thường, cái mào dựng lên như mào gà, đỏ như lửa, anh liền mua cả xâu rắn và phóng sinh. Đàn rắn bò vào rừng, riêng con rắn có cái mào đỏ rực quay lại nhìn anh một lúc lâu, như muốn nói lời cảm ơn!
Anh tiếp tục leo núi, ngược lên phía chùa Đồng, trong lòng thấy lâng lâng vì đã làm được một việc tốt lành. Chẳng phải rắn cũng là loài cấm săn bắt, cần được bảo vệ đấy ư ?
Đêm ấy, anh cùng vài người  ngủ lại trong một ngôi chùa ở Yên Tử. Một giấc mơ thật lạ. Anh không muốn kể. Nhưng sáng ra, thi hứng đến với anh dạt dào. Chỉ mấy ngày ở Yên Tử anh đã làm được cả một tập thơ. Tập “Thi vân Yên Tử” có 143 bài đã được xuất bản.
Tôi được anh tặng tập thơ kỳ lạ đó. Tôi còn được đọc những dòng chữ do chính tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về anh, về tập thơ. “Đọc những bài thơ hay, đượm gió ngàn cao, thấm nguồn suối núi, những bài thơ của một con người đầy tư tưởng nhân văn” (Võ Nguyên Giáp).
Anh có bài thơ “Ân hận”, với xuất xứ: Hôm ấy đoàn du khách xuống núi, gặp một người đàn bà bản địa, bắt được một con cầy hương ở gần chùa Giải Oan, anh cùng đoàn khách mải mê câu chuyện gì đó… nên đã không mua con vật để phóng sinh, nên khi về đến nhà anh rất ân hận.  Anh đã làm một bài thơ khá dài, tôi nhớ mãi những câu:
Đôi mắt sáng của ngươi
Cứ nhìn ta thăm thẳm...
Đức Phật nói: Bể khổ vô biên, quay đầu là bờ. Người biết ân hận là người biết quay đầu lại? Biết thương người, biết quý trọng vạn vật trên đời chăng? Phật tại tâm là vậy. Tâm lành, thì linh nghiệm, cái duyên nhà Phật chính là cái duyên để những người thành tâm gặp nhau chăng?
Tôi, Hoàng Quang Thuận, Liên Hương và Lê Kiên Thành đã gặp nhau trên đường đến quê hương Đức Phật. Sau chuyến đi kỳ lạ đó, chúng tôi trở nên thân nhau, mặc dù chưa biết gì nhiều về nhau.
Rồi, có lần Hoàng Quang Thuận mời tôi đến nhà anh ăn cơm. Căn nhà thật đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh. Bấy giờ tôi mới biết, anh vốn gốc Huế,  dòng dõi ngự y  triều Nguyễn. Vợ anh, Phan Thị Kim Thanh, cũng người Huế, dòng dõi hoàng tộc.
Theo gia phả, Hoàng tử thứ bảy của vua Gia Long Nguyễn phúc Tấn, tức Diêm khánh Vương là bà con trực hệ với chị Thanh. Gia đình anh được truyền giữ y đức của người xưa, biết chữa bệnh cứu người. Phổ độ chúng sinh, làm điều thiện, ắt sẻ gặp điều lành!
Khi ngồi viết những dòng này, Hoàng Quang Thuận, gọi điện cho tôi bảo đã gửi sách ra Hà Nội. Vừa hay, tôi nhận được tập “Thi vân Yên Tử” in rất đẹp,  bằng hai thứ tiếng Việt và Anh do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành. Cả tập sách bằng tiếng Anh về cuộc hội thảo tập “Thi vân Yên Tử”. 
Rất nhiều nhận định về tập thơ của anh. Ở đây, tôi không nói về tập thơ, tôi chỉ nói những cảm tưởng của mình về người thơ. Người thơ phong vận như thơ ấy. Sự dễ gần, quan tâm đến người khác, người thơ của Thi vân Yên Tử xem ra là một người quảng giao.
Tôi đã được anh đưa xem những bức ảnh của gia đình, chụp với rất nhiều nhân vật cỡ bự, với nhiều người nổi tiếng trong nước và thế giới, cả bút tích của họ. Nhiều lần tôi còn thấy anh trên truyền hình trong những buổi làm từ thiện. Tôi nhận ra sự từ tâm.
Người của những vần thơ Thiền, từ sự từ tâm mà tôi được biết.  
Dương Kỳ Anh

GS TS HOÀNG QUANG THUẬN - NGƯỜI ĐẺ THƠ SIÊU TỐC NHẤT NƯỚC VIỆT VÀ CHUYỆN CÓ HAY KHÔNG VIỆC MƯỢN PHẬT GIÁO ĐỂ ĐÁNH BÓNG NGÒI BÚT VÀ MỰC VIẾT?

 
GSTS Hoàng Quang Thuận: “Đến quá 12 giờ đêm tôi thấy người lành lạnh, tôi choàng tấm chăn ngồi viết. Và cứ mải miết viết liên tục như vậy, đến khi ngẩng lên đã thấy những tờ giấy đầy chữ bày kín bàn, tất cả 121 bài thơ, lúc đó đã hơn 4 giờ sáng. Tôi nhìn số thơ mình vừa làm quá đỗi ngạc nhiên, hóa ra mình đã làm được cả một tập thơ. Tôi và Dương Kỳ Anh đều vô cùng kinh ngạc trước một điều không tưởng như vậy”.
Như vậy, trong vòng 4 tiếng, 240 phút làm 121 bài thơ, trung bình 2 phút sản xuất 1 bài thơ… với tốc độ này, GS TS Hoàng Quang Thuận xứng được mệnh danh là người đẻ thơ giỏi nhất nước Việt, với sự chứng kiến của nhà thơ Dương Kỳ Anh (không biết ông có mặt ở những thời điểm nào trong khi GSTS Hoàng Quang Thuận…đẻ thơ).
Trên báo Tiền Phong (23/9/2009), trong bài viết Người có thơ gửi dự giải Nobel văn học nhà thơ Dương Kỳ Anh cho biết: Trong công văn của đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Thụy Điển số 62 sqvn _ 2009 đề ngày 28 tháng Tư 2009 gửi Thứ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn Thanh Sơn có ghi : “Về tập thơ viết về Yên Tử của nhà thơ Hoàng Quang Thuận gửi Viện hàn lâm Thụy Điển để ứng cử giải Nobel văn học, Đại sứ quán xin báo cáo như sau: Ngày 05 tháng 9 năm 2008, đồng chí Ngô Tiến Long, Tham tán công sứ của Đại sứ quán đã đến Viện hàn lâm Thụy Điển tại Stockholm gặp bà Ulrika Kjellin, trợ lý tổng thư ký Viện Hàn lâm Thụy Điển để trao tập thơ cùng thư giới thiệu của nhà thơ Hữu Thỉnh...”.
Ngày 8/8/2012 tới đây, tại HT Hội Nhà văn, số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội sẽ diễn ra hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”. Cách đây 4 năm, chiều 28/4/2008, tại trường Đại học Quảng Bình cũng đã tổ chức Hội thảo về "Thi vân Yên Tử" của TS Hoàng Quang Thuận.
Nước Việt có nhiều chuyện lạ, kính cáo bạn đọc, các nhà phê bình văn học vào cuộc thẩm thơ GS TS Hoàng Quang Thuận, và đọc bài phỏng vấn mới nhất trên E văn. (Trần Hùng)

________________________________________

GS HOÀNG QUANG THUẬN: “TIỀN NHÂN MƯỢN BÚT TÔI VIẾT THƠ”
Dương Tử Thành

Đứng tên tác giả của hai tập thơ “Thi vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi tập” gây dư luận nhiều chiều trong nước và được quảng bá ra nước ngoài nhưng GS.TS Hoàng Quang Thuận lại không nhận mình là tác giả của hai tập thơ trên.

Ông cho rằng, nếu nhận là tác giả sẽ có tội bởi đây không phải những bài thơ thông thường do ông làm mà chúng ra đời trong những giây phút xuất thần, tiền nhân chỉ mượn bút ông gửi lại.
- Nhà thơ Dương Kỳ Anh trong một bài báo kể lại câu chuyện: Một đêm tại Ninh Bình, GS Hoàng Quang Thuận đã làm được 121 bài thơ của “Hoa Lư thi tập”. Là người trong cuộc ông có thể nói rõ hơn?
- Trước dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tôi có hẹn với nhà thơ Trần Nhuận Minh đi Tràng An cầu thơ. Nhưng đến ngày hẹn thì anh Trần Nhuận Minh bị ốm không đi được, tôi mới điện cho nhà thơ Dương Kỳ Anh để cùng đi Ninh Bình. Tại khách sạn Hoa Lư, chúng tôi xin một gam giấy A4, tôi và Dương Kỳ Anh ký chéo mỗi người một xấp giấy trao cho nhau, tôi nhận 141 tờ có chữ ký Dương Kỳ Anh và ngược lại. Sau khi làm lễ, chúng tôi ở trong một nhà sàn ở khu du lịch tâm linh Tràng An, vợ chồng Dương Kỳ Anh ở một phòng, tôi ở một phòng. Gần nửa đêm tôi vẫn chưa viết được chữ nào. Đến quá 12 giờ đêm tôi thấy người lành lạnh, tôi choàng tấm chăn ngồi viết. Và cứ mải miết viết liên tục như vậy, đến khi ngẩng lên đã thấy những tờ giấy đầy chữ bày kín bàn, tất cả 121 bài thơ, lúc đó đã hơn 4 giờ sáng. Tôi nhìn số thơ mình vừa làm quá đỗi ngạc nhiên, hóa ra mình đã làm được cả một tập thơ. Tôi và Dương Kỳ Anh đều vô cùng kinh ngạc trước một điều không tưởng như vậy.
Với tôi đó là một sự thăng hoa, tôi hoàn toàn viết trong vô thức. Các bài thơ tôi đều làm trên giấy có chữ ký của Dương Kỳ Anh, và với thời gian hơn 4 tiếng, nghĩa là chỉ có 2 phút cho một bài thì chỉ chép lại thôi cũng khó, cũng sẽ sai chứ đừng nói là làm…
- Còn với “Thi vân Yên Tử”, tập thơ ra đời trước đó, có thông tin trong một lần đến Yên Tử ông đã gặp “thần rắn mào đỏ” Kim Xà, sau đó đã viết thơ như lên đồng, trong 3 đêm đã hoàn thành tập thơ. Thực hư chuyện này thế nào?
- Ngày 24/11/1997 tôi cùng với đoàn phật tử miền Nam do sư thầy Huệ Giác, ở Giáo hội Phật giáo Đồng Nai, ra Bắc viếng thăm Yên Tử. Chúng tôi đang trên đường lên núi, đến chùa Hoa Yên thì có một người đàn ông rao bán một con rắn nặng tầm chục ký, trên đầu có một chiếc mào màu đỏ. Tôi dừng lại mua với giá 650.000 đồng, sư thầy Huệ Giác đặt tên rắn là Kim Xà. Chúng tôi mua để phóng sinh, khi được thả Kim Xà ngỏng cao đầu gật 3 cái như chào trước khi bò vào rừng. Từ Yên Tử trở về Hà Nội, trong một căn nhà ven sông Hồng, 3 đêm liền tôi đã viết được tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài.
- Nhiều nhà phê bình gọi thơ ông là thơ Thiền. Thế nhưng với người bình thường đọc qua sẽ thấy giống như thể thơ du ký, thơ tức cảnh sinh tình xuất hiện khá nhiều trong đời sống văn học hiện nay. Ông thấy thơ mình khác với những bài “thơ du ký” ở điểm gì?
- Những bài thơ du ký là bài thơ làm về con người thực, địa danh thực do họ nhìn thấy, cảm thấy, còn tôi du ký trong một đêm sương gió, trong một đêm huyền ảo, du ký trong tâm tưởng. Nhiều địa danh xuất hiện trong thơ tôi ở Hoa Lư, Yên Tử sau đó các nhà sử học phải tìm lại, dân ở đó còn chả nhớ, phải tra lại mới ra, có chỗ phải dịch chữ Hán mới ra.
- Ông nghĩ gì về dòng thơ tâm linh trên thế giới và ở Việt Nam?
- Trên thế giới hiện tượng thơ bí ẩn tâm linh không phải chỉ có một. Đó là hiện tượng saman, gọi là lên đồng thơ, nhập đồng thơ. Người của hiện tại sống trên nền của quá khứ, người của quá khứ hiện hữu trong hiện tại.
- Ông nghĩ sao về những bản dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp thơ của ông?
-“Thi vân Yên Tử” do GS.TS Nguyễn Đình Tuyến dịch. Tiếng Pháp do dịch giả Hoàng Hữu Đản dịch. Bản tiếng Pháp có lẽ chuyển tải tốt hơn bản tiếng Anh. Gần đây nhất, Thái Bá Tân cũng dịch sang tiếng Pháp. Một GS người Mỹ là David, người từng dịch rất nhiều thơ haiku Nhật Bản, đã dịch lại trên nền tiếng Pháp của Thái Bá Tân và xin phép tôi cho đưa “Thi vân Yên Tử” vào giảng dạy trong trường đại học của ông ấy ở Mỹ. Tôi tin rằng bạn đọc thế giới sẽ phần nào hiểu được ý nghĩa của tập thơ.
- Nếu cần nói với những độc giả nước ngoài đọc thơ mình một câu, ông sẽ nói…?
- Tôi từng nói với ông David, thơ này là thơ lên đồng nên ông đừng nói tôi là tác giả. Tiền nhân đã trao cho tôi chép. Vì không có ai đứng tên nên tôi phải nhận đứng tên thôi, nếu tôi nhận tôi là tác giả là tôi có tội với tiền nhân. Tôi chỉ là người được tiền nhân mượn bút, không có gì là của tôi cả. Độc bản “Hoa Lư thi tập” cũng đã được tặng cho UBND TP Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội trưng bày trong Hoàng Thành Thăng Long, sau đó trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội, còn độc bản “Thi vân Yên Tử” cũng đã được tặng cho Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, tôi không dám giữ lại gì cả.
- Ông có nghĩ tiền nhân sẽ tiếp tục “mượn bút” mình để nói về những điều thần bí?
- Cái này không nói trước được. Phải có những thời khắc lịch sử nhất định, hòa hợp âm dương nhất định mới ra đời. Ví dụ như dịp tròn 700 năm vua Trần Nhân Tông về Yên Tử thì mới có “Thi vân Yên Tử”, dịp 1000 năm Thăng Long thì mới có “Hoa Lư thi tập”…
- Những câu chuyện ông từng chia sẻ có nhiều yếu tố tâm linh, nếu có người tỏ ra nghi ngờ hay không tin, là một nhà khoa học ông sẽ nói gì với họ?
- Nếu ai đó nghi ngờ, tôi đề nghị họ vào youtube xem lại clip cô bé Như Ý 9 tuổi răng còn chưa mọc hết mà có thể thuyết pháp 2 tiếng đồng hồ không cần giấy bút, nói những điều cao siêu mà cô chưa từng được học. Sau khi xem xong, và sau khi đọc “Thi vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi tập” họ sẽ hiểu đấy là tâm linh. 

 
GS.TS Hoàng Quang Thuận hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ viễn thông - Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ngày 8/8 tại hội trường Hội Nhà văn, số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội sẽ diễn ra hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”. Hội thảo do Tạp chí Nhà văn tổ chức, PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, Phó Viện trưởng Viện Văn học chủ trì; nhà thơ Hữu Việt điều khiển chương trình.
Độc bản “Thi vân Yên Tử (kích thước 125cm x 80cm x 16cm, nặng 120kg) đã được trao kỷ lục châu Á. Độc bản “Hoa Lư thi tập” (kích thước 109cm x 70cm x 10cm, nặng 54kg) đang được đề nghị UNESCO tặng di sản ký ức của nhân loại.

Lễ giới thiệu và trao tặng Unesco tập Hoa Lư Thi Tập của GSTS Hoàng Quang Thuận
GSTS Hoàng Quang Thuận trọng lễ kết nạp Hội viên HNV năm 2011


CÁC BÀI VIẾT VỀ THƠ GS TS HOÀNG QUANG THUẬN
BÁO CAND
Trăng Yên Tử trong thơ Hoàng Quang Thuận
Sự kết nối thơ thiền xưa và nay
GS Hoàng Quang Thuận nhận Bằng kỷ lục châu Á
Tiếp cận thơ Hoàng Quang Thuận từ phương diện sử học
Hòa trong muôn tiếng chuông ngân...
Sự thống nhất giữa hai tập thơ thiền trong một con người
BÁO PHÁP LUẬT
Chuyện lạ của 2 tập thơ thiền
Thả kim xà, Phật độ làm thơ!
TẦM NHÌN:
Chuyện lạ về sách độc bản mừng đại lễ 1000 năm
Tuyệt tác Phượng hoàng bay trên Bái Đính
Điều ít biết về tác giả cuốn sách đoạt kỷ lục châu Á
ĐẤT VIỆT
Hoa Lư thi tập chờ công nhận di sản tư liệu thế giới
10 cái to, lớn, dài nhất châu Á ở Việt Nam
BÁO GD&TĐ
Chất "thiền" trong thơ Hoàng Quang Thuận
GS. TS Hoàng Quang Thuận Để lại ngàn thu một tấm lòng
______________________
MỘT SỐ TRANG KHÁC
Hoàng Quang Thuận với Thi Vân Yên Tử
Hoàng Quang Thuận với những tập thơ “chấn động linh giác”
GS.TS Hoàng Quang Thuận và những vần thơ "thiên giáng"

GS TS Hoàng Quang Thuận và Trung tướng Hữu Ước thăm các cháu cô nhi

Chợt ngộ “Thi Vân Yên Tử” (1)
Hoa Lư Thi Tập sẽ được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới
Khi nhà khoa học hành hương lên cõi Thiền Yên Tử
Chùm ảnh đẹp qua Hoa Lư thi tập
Chuyện lạ xung quanh tập sách độc bản mừng Đại lễ
Tho du giai Nobel.AVI
VTV4 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM GIỚI THIỆU THƠ THIỀN CỦA GS-TS HOÀNG QUANG THUẬN. CHỦ ĐỀ "LẮNG ĐỌNG THƠ THIỀN" THÁNG 5-2009 (PHẦN 1)