.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Thursday, April 25, 2013

PHẠM CÔNG THIỆN – MỘT THI SỸ KỲ TUYỆT THIÊN TÀI

 
Có những con người đến rồi đi qua mặt đất trần gian này như một cơn sấm sét, gây chấn động kinh hồn, làm bùng vỡ một điều chi kỳ tuyệt, tinh khôi trên bầu trời tâm thức nhân loại, Phạm Công Thiện là một con người độc đáo như vậy.

“Anh đã ra đi từ đó, từ thời buổi hỗn mang. Trong từng khoảnh khắc sát na, từng quãng liên tục vi tế của hạt bụi, anh từ chối chính mình. Khi mọi người ca tụng anh như một thiên tài, anh vất bỏ thần tượng để đi như một tên lãng tử vô lại…Người lữ hành bước đi, từng con sóng của đại dương cuốn theo xóa sạch từng dấu chân đi. Lưu lại trong khách ảo ảnh tiền thân, phảng phất mùi hương và sắc màu quá khứ không phai nhạt.”* Tuệ Sỹ giới thiệu như thế về Phạm Công Thiện, một tâm hồn hạo nhiên chi khí, một thi sĩ thượng thừa đã khơi nguồn mạch sáng tạo trào dâng ngất ngưởng, mở ra thể điệu phiêu bồng trên cung bậc văn chương, thiền học, triết lý, thi ca bát ngát dị thường. Bước đi một mình một bóng, đơn thân độc mã quá đỗi phong trần gần 50 năm trời nay, say gót mộng chuếnh choáng lang bạt kỳ hồ, lang thang lêu lổng suốt muôn chiều phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương. Lướt cánh đại bàng, tung hoành ngang dọc khắp năm châu bốn biển, thênh thang giữa thiên địa hoàn cầu.

Vào một chiều tháng 6, bắt đầu mùa hạ năm 1941, Phạm Công Thiện ra đời bên dòng sông thơ mộng Cửu Long, một dòng sông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ngút ngàn chảy xuống dọc ven bờ phố thị Mỹ Tho, một thị xã nhỏ nhắn, lặng lẽ hiền hòa ở miền Nam. Thi sĩ lớn lên từ đó, suốt ngày đêm cứ mặc sức mơ mộng rong chơi, tha hồ tắm sông lội nước, nằm ngắm mây trời bay lãng đãng xa xôi.

Rồi bất thình lình, đột ngột một hôm vụt đứng dậy, xuất hiện trên văn đàn Việt Nam như một thần đồng biết nhiều thứ tiếng, một thiên tài lỗi lạc : Năm 1957, mới 16 tuổi đã xuất bản Tự điển Anh ngữ tinh âm, 19, 20 tuổi viết Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, 23 tuổi, viết Tiểu luận Bồ Đề Đạt Ma, 25, 26, 27 tuổi, viết Hố thẳm tư tưởng, Im lặng hố thẳm, Ý thức bùng vỡ, Bay đi những cơn mưa phùn, Trời tháng tư, Ngày sinh của rắn, Mặt trời không bao giờ có thực, Nikos Kazantzaki, Rainer Maria Rilke, Henry Miller và dịch thuật những tác giả vĩ đại Krishnamurti, Nietzsche, Heidegger… làm chấn động toàn thể giới văn nghệ sĩ trí thức thời bấy giờ.

Thuở ấy, năm 1967, khi Phạm Công Thiện làm Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, đúng lúc 26 tuổi thì Tuệ Sỹ, Bùi Giáng cũng có mặt ở đó thường xuyên, là những cây bút cốt cán, nền móng trong tạp chí Tư Tưởng, tiếng nói của Viện Đại học Vạn Hạnh.

Trước đó, nhà thơ cũng đã từng làm những chuyến giang hồ tứ chiếng, xách túi thơ bầu rượu ngao du sơn thủy qua Paris, London, New York, Washington rồi, từng diện kiến, sống gần gũi với những nhân vật kiệt xuất lừng lẫy trên thế giới như Krishnamurti ở Paris, Henry Miller ở Los Angles.

Đang là thần tượng của đám sinh viên các đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt thì đùng một cái, Phạm Công Thiện bỏ ngang chức Khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh, lên đường viễn phương hành, làm cuộc ra đi theo quẻ Lữ trong Kinh Dịch, lênh đênh qua tận bên kia bờ đại dương tuyệt mù tăm tích vào năm 29 tuổi, tức năm 1970. Đó cũng là năm cuộc chiến tranh Việt Nam đến độ khốc liệt, kinh hoàng, khủng khiếp nhất. trên khắp hai miền Nam  Bắc tang thương.

Cất cánh phụng hoàng, thi sĩ bay vút đi xuyên qua gầm trời giông tố bão loạn, đang đắm chìm giữa dòng sử lịch hỗn mang, tang tóc cuồng phong gầm thét dữ dằn, tan hoang tàn bạo, xô đổ xuống mịt mù âm u hỗn độn, vây khổn đầy bóng tối vô minh trong đêm dài điêu linh, trầm thống, đoạn trường.

Trước ngày khởi hành, ngồi trên đồi cao chùa Hải Đức Nha Trang, thi nhân lắng hồn cô đơn, tịch mịch để nghe vọng về bao nỗi đời ly tán, đớn đau, bàng hoàng trong rưng rưng nhức nhối :
Hồi chuông chùa vọng luân hồi

Chim chiền chiện hót ngang trời đau thương
Trùng dương nằm đợi vô thường
Đồi cao bạt gió hai đường âm u
Âm u hai đường, đông tây đôi ngã thê lương. Còn chi đâu mà nói nữa. Thôi thì cánh chim ngàn cứ tung bay cho hết bầu trời tính phận bao la của mình. “Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách im lặng, rộng lượng và không hy vọng.” Văn hào Nikos Kazantzakis đã nói như vậy, cũng như triết gia vĩ đại Heidegger làm những câu thơ như âm thầm khích lệ thi sĩ lên đường :

“Bước tới và chịu đựng
Sự thất bại và câu hỏi
Trung thành với lối đi duy nhất của mi.”

Thi sĩ Phạm Công Thiện đã cảm nhận chân thiết lời thơ đó, nên hùng tâm tráng khí, im lặng thực hiện một cách mãnh liệt cuộc lữ phi thường, khởi sự tấu khúc độc hành ca trên lộ trình hướng về hố thẳm uyên mặc, uyên nguyên. Cuộc lữ dữ dội bi tráng, mở ra những phương trời hoằng viễn như Rimbaud, Hoelderlin, như Nietzsche, Henry Miller, những đồng thanh tương ứng với thi nhân nên luôn luôn xuất thần, ngất trời túy lúy, phóng cuồng phiêu đãng hoan say. Đó là những cuộc đi vô định, vô sở trú, chất ngất trên tuyệt đỉnh núi cao và hun hút tận nguồn sâu hố thẳm tâm linh, vừa bừng bừng thần khí rực ngời lửa tim hồn cháy, vừa ầm ầm cuồng nộ, trào tuôn lai láng như sóng vỗ đại dương. Cháy và chảy, cháy và chảy mãi trong hồn, như một lần đặc biệt, nhà thơ đã từng nhắn gởi cho giới trẻ thanh niên Việt Nam : “Gởi một người đọc không quen, cùng cháy một thứ lửa thiêng như tôi, cùng được nuôi bằng một thứ nước điên nào đó chảy trôi như tôi, cùng sống như tôi đang sống : Cháy và chảy, cháy và chảy không ngừng…”**

Hừng hực ngọn lửa thiêng suốt ngày đêm bừng cháy trong trái tim nên chàng thi sĩ đã hào hứng lên đường ra đi từ dạo đó, từ thuở nào vô thường dâu bể loạn mù xa,


giã từ hồng nhan, bái biệt nàng thơ huyền mộng cũ trong ngậm ngùi chia phôi :
Đã đi thì đã đi rồi
Thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu
Hạ phương ngày tháng bể dâu
Sắt son tình cũ phượng cầu túy hương
Có còn chi nữa mà thương
Buổi trưa nằm ngủ thấy nường năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch trùng khơi phong kiều
Chuyển hình trên đỉnh cô liêu
Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn
Đại Huyền biến ngưỡng triêu tôn
Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao
Án nga nga nẵng bạch hào
Một luồng sáng rưc chiếu vào trái tim

Đứng trên tuyệt đỉnh cô liêu, một chiều hoang vu nọ, nhà thơ bỗng nghe văng vẳng những lời ẩn ngữ mật ngôn huyền bí và chợt thấy thấp thoáng tiền kiếp mình ở tận xứ miền tuyết trắng Tây Tạng hoang sơ. Biết mình là hành giả Mật tông trong các dãy hang động trên tuyệt mù Hy Mã Lạp Sơn, nên trái tim Bát nhã ứng hiện những nàng tiên huyền diệu, dạo khúc cung đàn mười tám tiếng lòng Không Định rung ngân, khiến cho thi sĩ chỉ còn biết đọc thần chú lim dim :

Năm nàng thiên nữ tôn nghiêm
Trùng quan ngũ sắc ứng điềm tán không
Án đa la tịch mịch hồng
Mười phương xuất hiện những đồng sinh thiên
Bát nhã là gái thiên tiên
Khoan thai cởi áo mây hiền trên cao
Gió lùa thơm tóc tơ đào
Thập bát Không Định tiêu dao tiếng đàn
Trời mưa chim ngủ trên ngàn
Sắc son tình cũ nước tràn sang sông
Tiếng đàn tiêu dao vô thanh mà vang ngân bất tận lan dài theo cuộc lữ kỳ cùng, rung hồn rúng chuyển gió sương ngàn khắp vùng thung lũng sơn khê. Ơi chao ! Một đóa hồng hoa vut trổ im lìm như những nàng tiên nữ giáng trần sà nhẹ vào hồn tim, để cho thi nhân xuất thần bay phiêu linh, phiêu hốt trong bồi hồi rộn rã :
Đã đi rồi đã đi chưa
Sắt son triều ngưỡng tình xưa hiện về
Phượng cầu ngũ lĩnh sơn khê


Một bông hồng nở bốn bề lặng im
Năm nàng tiên đậu vào tim
Âm nhập dương khởi lim dim xuất thần
Năm nàng tiên ở đây là ẩn ngữ ám chỉ cho năm nàng thơ, năm người yêu dấu nhất  trong cuộc sống thực tế thường nhật của thi nhân. Xuất thần nhập cốt, hưng phấn hân hoan rạt rào, vô cùng cảm hứng là những trạng thái kỳ diệu mà Phạm Công Thiện thỉnh thoảng rơi vào một cách phiêu diêu tuyệt cùng, như một thời sống bồng tênh trên núi rừng phố hoa Đà Lạt, một chiều hiu hắt nọ, chàng choáng váng, sững sờ khi bắt gặp Thiền tông giữa cơn mưa gió bão bùng : “Tôi quỳ xuống lạy lung tung, tôi lạy gió, lạy mưa, lạy nắng, lạy không khí, lạy cái ghế, lạy cái bàn, lạy vách tường, lạy đóa hoa trong ly, lạy cái giường. Ồ tôi hạnh phúc, sung sướng, yêu đời, yêu cả vũ trụ. Cảm tạ hết mọi đau khổ, mọi bất công, mọi bi kịch, cảm tạ hết, cảm tạ bất tận. Tôi đã tìm được tất cả những gì đã đánh mất từ mấy ngàn năm nay.”***

Hay một lần nơi  thành phố Garden Grove ở California, trong căn phòng trống trải cô tịch vô vi, thi nhân cũng nhập diệu, thấy mình hóa thân trùng trùng giữa mười phương pháp giới vô ngần : “Trong tận cùng sâu thẳm của kiếp người, nó không khác người khác, nó là tất cả mọi người đang di động trên trái đất, nó là tất cả những định tinh và hành tinh, nó là con sâu, cái kiến, con bướm, con quạ, trái cam, chiếc lá. Nó là cơn gió thổi vèo qua kẹt cửa, nó là luồng ánh sáng và đêm tối…Nó là một cảm giác, một tư tưởng, một ý tưởng và một cử chỉ. Nó là mỗi chữ, mỗi tiếng, mỗi lời trong tất cả ngôn ngữ loài người…Nó là sự trống không mênh mông của mười tám cái không tràn trề của Trí tuệ Bát nhã sang sông…Nó là sức mạnh vũ bão của tất cả năng lực vũ trụ, sự tập trung tư tưởng mãnh liệt nhất của tất cả tư tưởng nhân loại, tập thành khủng khiếp của tất cả đạo lý và triết lý…Nó là nguyên lý đồng nhất tối thượng, đồng thời là sự chuyển hóa tối hậu của chính nguyên lý đồng nhất và bước nhảy tịch liêu vào cõi tịch mịch của một đóa hoa hồng tơi tả…”****

Rồi một lần kia, nhà thơ cô đơn, tha thẩn dạo chơi những ngày cận kề cuối năm ở tận góc bể chân trời Ý Đại Lợi xa xăm bỗng nhập thần mộng thấy đại thi hào Nguyễn Du và Thúy Kiều hiện về thấp thoáng vi vu :
Năm tàn nằm mớ Nguyễn Du
Kiều trôi đâu mất la phù dặm khơi
Cuốc kêu bảng lảng tháp hời
Nhắc tên người cũ rã rời cuối năm
Trầm tư bên một góc quán cà phê ở Glebe, trên vùng đồi cao Eanwood, nhìn xuống dòng sông xanh, gần thành phố Sydney ở tận bên kia bờ Úc Châu, thi nhân chợt nghe ra tiếng ngựa hí, tiếng đàn vô thanh của Mã Minh và thấy Long Thọ lang thang dưới ánh trăng thái cổ ảo huyền :
Con ngựa ô lồng lộn Mã Minh gãy đàn


Long Thọ thở dài nhật nguyệt lang thang
Rồi lại một chiều phiêu bồng lãng bạt, rong rêu bên dòng sông Seine bồng bềnh, rực ngời hoa nắng óng ả mới lạ ở thành phố hoa lệ Paris, thi sĩ bỗng thấy Van Gogh nhập cốt ứng hiện huyền hòa :
Úm tô rô Van Gogh hiện ra
Úm ba la u linh ma ha
Đất nứt nở ra bầy quạ trắng
Hồn thiêng Van Gogh nhập vào ta
Van Gogh là một họa sĩ dị thường, có một câu nói bất hủ : “Trong cuộc đời và trong cả hội họa cũng vậy, rất có thể mi bỏ qua không cần Thượng đế, nhưng mi, kẻ khổ đau, mi không thể bỏ qua, không cần tới một điều cao viễn hơn mi, chính là đời mi : Quyền năng sáng tạo.” Vâng, sáng tạo là một nghệ thuật tối thượng, là bước đi tuyệt cùng tự giải phóng, tự giải thoát bản thân khỏi nhà tù do chính mình tự tạo cho mình, như nhà văn xuất chúng Henry Miller cũng đã từng tuyên bố : “Kẻ sáng tạo kêu gọi con người trực nhận rằng, tất cả mọi tự do có sẵn trong bản thân rồi. Rằng con người không cần phải bận tâm lo lắng đến vận mệnh thế giới ( vì đó không phải là vấn đề của hắn ) mà chỉ nên lo giải quyết vấn đề riêng tư của chính riêng mình, tức là vấn đề giải phóng, giải thoát, chứ không phải vấn đề nào khác cả.”***
Nhà thơ tài hoa Phạm Công Thiện của chúng ta, cũng trên tinh thần giải phóng ấy, vẫn quảy túi thơ bầu rượu, xuôi ngược bước đi nhảy múa trên thông lộ phong quang sáng tạo vô lường. Hướng về uyên nguyên khơi mở, thở cùng linh khí của nhật nguyệt thiên thu, tái tạo từng điệu thở, từng ý niệm, nổ tung mọi cố chấp thâm căn cố đế để thể nhập Tánh Không, xô cửa huyền vi mà bước vào Tâm giới, nơi tuyệt cùng của vạn vật Nhất như. Bước tự do tự tại, thênh thang giải thoát mọi dính mắc, buộc ràng, chỉ còn sáng tạo và sáng tạo miên man, dốc hết tinh hoa, tinh túy để tựu thành những tác phẩm độc đáo vô song :
Từ Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất đến Khơi mạch nguồn thơ thi sĩ Seamus Heaney, từ Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử đến Nguyễn Du đại thi hào dân tộc, từ Đối mặt với một ngàn năm cô đơn của Nietzsche đến Chỉ còn tiếng thơ trên mặt đất, từ Nét đẹp tinh túy trong sáng của đạo lý Phật giáo đến Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ tát sáng rực khắp bốn phương, từ Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng đến Trên tất cả đỉnh cao là lặng im…là những bước nhảy thượng đẳng, ngoạn mục, hùng tráng, phi thường, vượt qua sự chuyển hóa toàn diện của tâm thức đến độ vô sư tự ngộ, bùng vỡ ra một điều chi như thị đang là, ngay ở đây thôi :
Những gì không vói tới
Thì có sẵn đó rồi
Bao nhiêu danh vọng hời
Vài ba cụm bèo trôi


Ba mươi năm nằm dài
Một hôm đứng phắt dậy
Bất nhị xòe tầm tay
Bất ngờ tôi sụp lạy

Từ trống trải nhận thấy
Tự trống trải lắng nghe
Tịch diệt liền tại đây
Xuân dậy giữa trưa hè
Xuân là Nguyên xuân, Tâm xuân, mùa xuân miên viễn trong lòng người, thi sĩ đã thấy và nghe được như một phép nhiệm mầu làm biến tan mọi niềm đau sầu khổ :
Hôm nay là hôm nào
Thôi đừng hỏi tại sao
Phép lạ đập vào cửa
Bông súng nở trắng phau

Ngồi im giữa vòng tròn
Thở nhẹ như chim non
Mộng thân trùm Pháp giới
Bông quỳnh vừa nở trọn

Lắng vào trong cái nghe
Rót vào lòng thật khẽ
Lọt vào trong lặng lẽ
Động tịnh đều dứt nhẹ
Những bài thơ ngắn gọn, tuy đơn sơ giản dị nhưng đi thẳng vào lòng người một cách tự nhiên, thể hiện cốt cách đặc thù riêng biệt, hàm dung ý thiền “một là tất cả. tất cả là một” của tinh thần Hoa nghiêm, nói như Phạm Công Thiện : “Nếu chúng ta xoay chuyển cái nhìn của chúng ta vào trái tim vũ trụ theo nhịp thở kinh Hoa nghiêm thì tất cả mọi sự đều dung thông, dung nhiếp, viên dung tự tại vô ngại, thời gian là không gian, một thời gian là tất cả không gian, một không gian là tất cả không gian, tất cả thời gian là một không gian, tất cả không gian là một thời gian.”*****
Khi tiềm ẩn nguyên khí, nội lực thâm hậu thì bậc cao thủ cự phách thường kiệm lời, ít nói mà linh hoạt, tùy hứng như trẻ thơ, hồn nhiên đùa rỡn, xem cuộc đời như một trò chơi. Còn kẻ thi sĩ xuất chúng, sáng tạo vô vàn cảnh giới thi ca quá mộng thì ít nhất cũng sờ đụng tới hố thẳm và đỉnh cao tâm linh của chính mình.
Đỉnh cao và hố thẳm tâm linh ấy, Phạm Công Thiện đã từng va chạm, giáp mặt trong một bình sinh hy hữu nào đó, cho nên cả trời thơ đất mộng dạt dào bao nhựa sống thâm trầm nhập vào trong từng điệu thở tinh khôi :


Lùa nhẹ vào một mối
Đập mạnh một nhát thôi
Tất cả đều bày phơi
Trí tuệ sáng rực ngời
Muốn có được ánh sáng quang minh trí tuệ rực ngời đó thì chẳng phải chạy tìm đâu xa mà chính ngay nơi tận đáy lòng mình, chính nơi mình đang cư ngụ, lưu trú, ngay nơi những nghịch cảnh, thử thách mà mình phải giáp mặt ngày đêm một cách anh dũng, không nao núng, như nhà thơ từng nhắc nhở : “Chúng ta chỉ thành Phật được, khi chúng ta là con người ở giữa thị tứ, không có cảnh Bồng lai thiên thai địa đàng nào là thuận cảnh để ta giải thoát được, chinh tất cả Nghịch cảnh của nơi ta sinh sống mới là nơi ta tự chuyển hóa tâm thức để nhập vào Tự chứng Thánh trí.”***** Thánh trí đó là trí tuệ, tuệ giác, là cái bản tâm nguyên sơ thanh tịnh của mình đấy thôi. Khi thấy rõ tận tường được điều đó thì xem mọi sự ở đời như sống chết, đến đi, hơn thua, đúng sai, phải trái, giàu nghèo, thành công, thất bại… đều là nhân duyên giả hợp, chẳng hề sợ hãi, lo âu chuyện còn hay mất :
Thất bại giữa đời này
Chết sáng ngời trên cao
Bông tàn phai cõi đất
Mọc lại giữa trăng sao

Nhảy thẳng vào sự việc
Chẳng có gì đáng tiếc
Sự việc lớn lao nhất
Là hiện tiền tịch diệt
Thực tại hiện tiền là ngay đây, bây giờ, ngay trong mỗi phút giây là chứa đầy thiên thu vĩnh cửu, ngay trong từng hơi thở ra vào là đủ cả nghìn năm :
Bôn ba ngoài vạn dặm
Cũng chỉ một trăng rằm
Bao nhiêu là hố thẳm
Xoáy về nốt ruồi đậm
Hố thẳm là ẩn ngữ chỉ cho tư tưởng của chúng ta. Chỉ cần một chút tơ tưởng móng lên thôi là cả ba nghìn thế giới, sơn hà đại địa hay tiên nữ, thục nữ mười phương liền hiển lộ, bừng dậy huy hoàng, rõ ràng hiện ngay trước mắt tức thì :
Chỉ cần một ý tưởng
Khắp vũ trụ mười phương
Sáng bừng lên vô lượng
Thiên tiên hiện đầu giường
Phải chăng đó là cái thấy tuệ giác siêu việt của một tâm hồn bao la thông suốt lẽ sâu xa của trùng trùng duyên khởi Hoa nghiêm pháp giới diệu kỳ :
Mỗi bước chân ra đi
Triệu vũ trụ thiên di

Mỗi chỗ tôi ngồi lại
Sáng bừng lên diệu lý
Chân lý vi diệu đó, thi nhân bỗng phát hiện chẳng ở đâu xa mà ngay tại đây và bây giờ, ngay giữa phù du cát bụi giữa vui buồn sướng khổ trong cõi lòng huyền diệu của thức tâm :
Trăm năm đời hờ hững
Đêm ngày buồn lơ lửng
Linh địa là tại đây
Nơi chỗ tôi đang đứng
Linh địa là mặt đất thiêng liêng này, nơi thi sĩ đang sống từng phút từng giây đầy trọn vẹn. Sống từ đồng bằng sông Cửu Long đến cao nguyên sương mù Đà Lạt, từ Mỹ Tho, Cần Thơ, Sài Gòn, Nha Trang đến Paris, London, Rome, Monterey Park, Long Beach, Los Angeles, Houston, Washington… ngút ngàn viễn xứ xa xôi :
Thoắt đi một đời người
Buồn hoài cũng thế thôi
Trăm năm là giây phút
Chưa đi đã tới rồi
Hàng triệu tỷ năm trôi qua và giờ đây ngưng đọng trong cái đang là, nơi người em thi ca từ vô lượng kiếp trở về đang mỉm cười nguyên sơ rạng ngời mới lạ :
Mười lăm tỷ năm qua
Từ vạn triệu thiên hà
Bây giờ ta mới tới
Gặp lại em hôm qua
Cuộc trùng phùng kỳ ngộ thật vô cùng thú vị, tuyệt hảo tân kỳ như một kẻ đốn ngộ vô ngôn vì thấy toàn thể vũ trụ là chốn đạo tràng đầy đủ chư Phật, Bồ tát, Thần linh đều viên dung cùng một ngọn ngành thanh tịnh :
Tất cả là đạo tràng thần linh
Ta ngồi tham ngưỡng cội vô hình
Thênh thang phù thế làm chim ó
Bay lượn tháng ngày cõi lặng thinh
Bay lượn giữa phong quang trời đất, nhật nguyệt hay thả trôi trên dòng sông Mật tông thấm đẫm tình Mẹ Đại bi, Đại trí Tãra xanh biếc huyền mộng chan hòa. Cả vũ trụ mênh mông là một tu viện rồi thì về chùa hay xa chùa cũng trong vòng tay bao dung mở rộng :
Tãra mười tiếng đại không
Ảo thân nằm giữa dòng sông Mật thừa
Về chùa một dúm muối dưa
Xa chùa cũng thế : Hứng mưa mỉm cười
Hầu như suốt cuộc đời Phạm Công Thiện thường gắn bó, thân mật, cận kề với những ngôi chùa ở quê hương cũng như các ngôi chùa nằm dọc ven đường lang bạt


trên toàn thế giới, chàng ở chùa nhiều hơn là ở nhà. Mặc dù, mới buổi sáng giảng kinh Kim cang thao thao bất tuyệt trên thiền đường, rồi buổi chiều thõng tay vào chợ uống rượu ngâm thơ túy lúy cùng bọn văn nghệ sĩ, giang hồ tứ chiếng đó đây mà phong thái vẫn nhàn nhã, tự tại, tiêu dao. Mỉm cười buông bỏ nhẹ nhàng để bước đi trầm hùng sư tử, tự do vô sự. Vô sự như “chim hải hồ bay trắng tháng ngày” bay khắp thiên thanh vĩnh thúy rồi đậu xuống mái hiên chùa rêu phong tịch mịch, ngồi nhập định du hý tam muội làm thơ kính tặng cõi thinh không lồng lộng :
Mồng tơi mây ngủ hiên chùa
Dâm bụt rực đỏ hai mùa gặp nhau
Hơi rừng thơm nức chiêm bao
Đêm thâu nín thở ngó vào bài thơ
Toàn thể cuộc đời là bài thơ, sống chết là bài thơ, có không là bài thơ, mộng thực là bài thơ, buồn vui, sướng khổ là bài thơ, hơn thua, được mất là bài thơ, thành công, thất bại là bài thơ, gặp gỡ, ly biệt là bài thơ, phiền não, an lạc là bài thơ, khổ đau, hạnh phúc là bài thơ, chiêm bao mộng mị là bài thơ hay Vô thượng chánh đẳng, chánh giác cũng đều là thơ thơ hết thảy, thơ ở trong  thơ :
Tượng Phật ở bàn thờ
Dọn dẹp để trống trơ
Tôi vẫn lạy chỗ trống
Chỗ trống thành bài thơ
Chính cuộc đời của Phạm Công Thiện là một bài thơ quá tuyệt vời bát ngát, quá tuyệt mỹ lý thú, quá tràn trề mê say, ngợp đầy hào sảng rạt rào vô hạn, đã khơi dậy nguồn cảm hứng dồi dào, thắp lên ngọn lửa thiêng huy hoàng sáng tạo, bừng cháy bất tận giữa lòng nhân thế tuyệt trần :
Hứng lúc nào cũng đến
Giờ nào cũng giờ hên
Ngồi thẳng lưng mà viết
Vạn tơ tưởng bồng bềnh
Viết là sống. Sống một lần Tự do đầu tiên và cuối cùng như Krishnamurti hay sống Alexis Zorba Con người chịu chơi như Nikos Kazantzakis hoặc sống Chơi giữa mùa trăng như Hàn Mặc Tử : “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt sự sống.”
Thể điệu sống ấy, thật giống hệt với thi sĩ Phạm Công Thiện xiết bao !
Thật vậy, chẳng những giống như Hàn Mặc Tử về phong cách nhập cuộc tha thiết, kiệt tận bình sinh, dốc hết toàn thể xương xảu máu me vào ly rượu tình yêu nồng say óng ả mà Phạm Công Thiện còn tương ứng, tương tợ với nhà thơ lãng tử Rimbaud từng trải qua Một mùa địa ngục bi tráng, bi hùng, với đại thi hào Walt Whitman, chỉ một Lá cỏ cũng đủ chứa đựng cả vô tận đất trời, với Suzuki Thiền luận, với Padmasambhava Tổ sư Mật tông Tây Tạng, với Milarepa Con người


siêu việt, với Long Thọ Trung quán luận, với Heidegger Về thể tính của Chân lý, với Nietzsche, Zarathustra đã nói như thế trên ngõ về vĩnh cửu, với thi hào Hoelderlin lên đường Quy hồi cố hương, với Apollinaire, một thi nhân trầm lặng mặn nồng, sống trọn vẹn hết mình với tình yêu và nhất là với Henry Miller, một tâm hồn thượng đẳng mà Phạm Công Thiện kính phục, ca tụng hết lòng : “Henry Miller là một trong vài ba thiên tài nhân loại đã đánh thức dậy thế lưc mãnh liệt nhất của lòng Đại bi trong ý thức và vô thức của con người trên mặt đất.” Lòng Đại bi là tình thương, tình yêu vô lượng vô biên có từ buổi sơ khai, nguyên thủy mà Henry Miller đã thấu thị được hương vị của tình yêu tuyệt vời, diễm kiều, vi diệu đó và vượt qua, vượt qua bên kia bờ Nhất nguyên tuyệt bích.
Tìnht thương, tình yêu dịu dàng phát sinh, khởi sự từ những thục nữ, thuyền quyên, từ nàng thơ, tiên nữ, duyên dáng mỹ miều, yểu điệu ngát hồng nhan :
Càng xa càng mông lung
Tới gần vẫn lạ lùng
Nhắm mắt sao lạ quá
Mở ra ồ không cùng
Linh hồn con gái, phải chăng là nhiệm huyền thi vị như vậy, khiến cho chàng thi sĩ mơ màng mộng mị trong từng trận trận chiêm bao ảo dị dập dìu :
Một người nằm thở quạnh hiu
Mơ mòng thiếu nữ cô liêu giáng trần
Gió khuya đập cửa bất thần
Giựt mình thức dậy mấy lần chiêm bao
Có nàng tiên dáng cao cao
Nước da mòng mọng hao hao bông hường
Cái đêm lành lạnh chiếu giường
Gió lùa hương lạ bên đường tạt qua
Đêm qua thương nhớ người ta
Tối nay tơ tưởng thiên hà bơ vơ
Tháng ngày tôi nhớ bâng quơ
Những nàng con gái bao giờ gặp đâu
Gặp nhau bao giờ chưa hỡi những sắc nước hương trời, những kỳ hoa dị thảo, những hương đồng cỏ nội khắp lâm tuyền, biên ải ngoài bến gió bờ sương ở mọi chốn muôn nơi, hỡi Quế Hương, Thanh Hoài, Phong Sương Trần Thi Loan, Hoàng Thu Uyên… diễm tuyệt một thuở nào quyến rũ du dương tận xứ miền Liên Chiểu hay ngút ngàn sương khói Đà Lạt quá mang mang :
Bầy chim bạc má gọi đàn
Thương nhau gặp lại trên ngàn đỉnh cao
Trở về Đà Lạt ngó đào
Ghé thăm Liên Chiểu thuở nào yêu nhau
Yêu nhau cảm động dường nào, xao xuyến, xốn xang, rộn ràng trong tiếng hát liêu


trai của nàng ca sĩ yếu gầy mà thi nhân hơn một lần say đắm mộng lao đao :
Cô đơn về trắng sương rừng
Anh nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm
Khuya buồn tủi nhục môi em
Mưa run lặng lẽ bên thềm bơ vơ
Tiếng ru vàng xuống đôi bờ
Hoang vu anh đứng đợi chờ chim kêu
Tay gầy ôm chặt tình yêu
Anh về phố gục những chiều hư vô
Đời đi trên những nấm mồ
Đau tim em hát cơ hồ khăn tang
Phố chiều thả bước lang thang
Như con sông nhỏ mơ màng biển xanh
Nửa đêm khói đốt đời anh
Yêu em câm lặng khô cành thu đông
Lời em như một dòng sông
Đôi bờ anh đứng giữa lòng hoa niên
Mưa chiều nước chảy triền miên
Một con chim dại lạc miền hoang lương
Về đâu thương những con đường
Lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa
Hè xưa phố cũ tuy buồn mà vẫn có một vẻ đẹp não nùng của thứ tình yêu diêu mang lãng đãng. Chàng thi sĩ đa tình đa cảm, trót vương mang nàng thơ gầy guộc có đôi mắt sầu mộng u huyền trên cao nguyên nghi ngút sương mù bay trắng cả rừng thông, suốt mười năm trời đằng đẵng mộng mơ, nhớ thương tưởng vọng trong da diết ngậm ngùi : 
Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi long đong theo bóng chim gầy
Một sớm em về theo giấc ngủ
Bông trời bay trắng cả rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông
Phải chăng đó là cõi mộng hư ảo tự thuở nào xa ngút ở trên rừng Phi Nôm Đà Lạt hay dưới vùng biển Vạn Giã Nha Trang. Ơi nhớ một chiều mưa thấp thoáng, chàng


thi sĩ rời bãi biển cát trắng, gõ nhịp bước đơn hành đi về leo lên sườn đồi cao Hải Đức, bỗng sực thấy cây khế bừng rộ hoa tim tím bên triền dốc đá hoang thưa :
Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông
Hoa nở rồi tàn cũng như những nàng con gái mộng mơ đến rồi đi. Tuy vậy vẫn còn phảng phất những làn hương tóc mị kỳ cứ ám ảnh chập chùng mãi lung linh :
Tình bay lên nóng trăng sao
Gió lùa thơm tóc cô nào năm xưa
Đã đi rồi đã đi chưa
Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời
Đã đi mất hẳn đi rồi
Hạ phương tịch mịch bỏ đời biệt tăm
Thầm cảm nhận thấm thía hương vị mị kỳ của tình yêu tương đối và tuyệt đối, rồi từ đó, thi nhân tự nhiên như nhiên chuyển dần sang ngạt ngào tuyệt bích tình thương. Tình thương yêu tối thượng như mây lan tỏa khắp mười phương, chan chứa trộn lẫn trong giọng chim ca lăng tần già hòa quyện tiếng kêu thanh tao, thánh thót nhập hồn sương khói vô vi trở thành Bồ đề tâm thâm viễn miên trường :
Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy cúng dường
Lôi bồ đề tâm dậy
Chấn động khắp mười phương

Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vô lượng
Lôi bồ đề tâm dậy
Địa động cả mười phương

Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy đại dương
Lôi bồ đề tâm dậy
Sấm sét nổ mười phương

Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vô thường
Lôi bồ đề tâm dậy
Sấm chẻ đứt kim cương

Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy thiên hương
Bồ đề tâm tăng trưởng
Bông quỳnh nở bất thường

Chim ca lăng kêu sương
Tôi sụp lạy vách tường
Bồ đề tâm quy ngưỡng
Bông trang trổ đầu đường
Khi thi nhân quỳ xuống, sụp lạy tất cả muôn loài vạn vật, đất trời thiên vạn cổ là lúc Bồ đề tâm bừng dậy tỏa chiếu hào quang rạng rỡ khắp muôn phương. Bồ đề tâm chính là Đại bi tâm, có thể làm sụp đổ tất cả mọi ác pháp. Phạm Công Thiện từ bao giờ đến bây giờ vẫn thường xuyên miên mật hít thở trong bầu khí hậu phong nhiêu ấy, hơi thở biến thành hành động sụp lạy là đã nhập vào vô ngã, vắng lặng cái tôi, vắng lặng mọi so đo chân giả, xa lìa mọi giả danh, tham chấp,  chỉ còn đương xứ tức chân, hiện bày ngay cái đang là.
Đang là thì không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu, dù cuộc lữ bắt đầu khởi sự từ vô lượng kiếp rồi, dù có đi vòng quanh hết quả địa cầu này thì cũng đẻ thấy lại cái tâm hồn mình, như Henry Miller nói : “Vì chỉ có một cuộc phiêu lưu vĩ đại thôi, đó là đi vào bên trong  mình và đi vào trong lòng mình thì thời gian, không gian, ngay đến hành động cũng không quan trọng gì cả.”**** Thì ra là vậy, thật đơn giản mà độc đáo vô cùng.
Cùng nòi giống, cùng dòng máu Henry Miller nên Phạm Công Thiện cũng nhiệt liệt, hiên ngang theo dõi cuộc phiêu lưu thám hiểm vào nội tâm thầm kín, để khai phá ra những bí mật bên trong thế giới tâm linh sâu thẳm của chính mình. Cuộc lữ tư duy khủng khiếp từ khi thi sĩ tự nguyện làm lạc đà gánh nặng, băng qua những sa mạc cát trắng khô hạn, cháy bỏng vết hằn cay đắng, thê lương, vượt qua ngàn cơn bão lốc khốc liệt, kinh hoàng của nỗi đời dâu bể tan hoang cũng như từng say đắm, say sưa chén rượu hồng nhan, túy lúy càn khôn bổi hổi, rồi dấn thân làm sư tử oai phong lẫm liệt, đi đứng một mình, không bè nhóm, không đảng phái, không ý thức hệ, chỉ gầm rống vang động, làm rung chuyển khắp sông hồ dữ dội, hùng tráng, uy nghi, khí phách giữa tồn sinh bức bách, xuống biển lên đồi.
Rồi bất ngờ đến kỳ lạ, sư tử biến thành thằng bé trẻ dại hài nhi với nụ cười tươi tắn niềm hân hoan thơ ngây, thấy gì cũng rực ngời mới lạ, bằng con mắt trong veo, trong trẻo trinh nguyên xanh biếc trời thơ đất mộng không tên.
Trên cung bậc ngân vang ngút ngàn sáng tạo, Phạm Công Thiện cùng tương ứng với triết gia Nietzsche về ba hóa thân : Lạc đà,. sư tử và hài nhi. Trước hết tinh thần trở thành lạc đà, chuyên chở gánh nặng văn hóa, truyền thống… tiêu biểu những giá trị lỗi thời xưa cũ. Sư tử là chúa tể rừng xanh, tượng trưng cho ý chí, trí tuệ siêu việt, mạnh mẽ phá hủy tất cả những triết thuyết độc thần, hư vô, duy vật lỗi thời đó, làm sụp đổ hết thảy mọi thần tượng do con người sợ hãi dựng lên và cuối cùng là hài nhi hồn nhiên, là biểu tượng cho sự bắt đầu, khởi nguyên hoàn toàn mới mẻ, là một tiếng cười rỗng rang, một tiếng ừ chấp nhận thiêng liêng.
Hài nhi xem mọi sự như trò chơi, trò đùa vui vẻ, chẳng có chi phải trầm trọng, nặng nề, chẳng có gì phải van xin, tôn thờ, sợ hãi. Hài nhi chỉ biết yêu thương múa


hát, hân hoan sáng tạo và sáng tạo thênh thang.
Thênh thang ca hát như Trang Tử dạo khúc Tiêu dao du bên bờ sông Dương Tử hay như Milarepa hát ca những lời thơ siêu thoát trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn lạnh rờn tuyết trắng, hoặc như Beethoven Hòa tấu khúc thứ 9 bất hủ và Phạm Công Thiện cười vang lên như tiếng gầm sư tử trầm hùng tự tại thong dong :
Anh vụt cười to động đóa hồng
Dịu dàng em rắc giữa hương nồng
Anh ngồi chỗm dậy như sư tử
Vồ chụp bướm ngàn lúc rạng đông
Khi sư tử mà đùa rỡn, nhảy múa với chim ngàn hoa bướm là lúc mọi sự đã trở thành một trò chơi của hài nhi hý lộng, rất mực thuần nhiên thoải mái, thanh thản nhẹ nhàng như thi sĩ tâm sự khơi vơi về thái độ ứng xử giữa cuộc luân lưu sinh tồn linh động : “Sống, ăn ở đời một cách khiêm tốn, tầm thường, nhỏ thấp, cung cách, cử chỉ lặng lẽ từ tốn, nhún nhường, không tìm cách tỏ ra rằng mình là quan trọng đối với con mắt thế gian, nhưng đằng sau bề ngoài tầm thường đó thì hãy để tâm thức mình bay vút, vượt lên trên tất cả quyền lục và danh vọng thế gian…
Chấp nhận tất cả những gì xảy đến đời mình với sự dửng dưng bình thản, mặc kệ giàu hay nghèo, mặc kệ khen hay chê, không thị phi phân biệt cái này với cái kia như đức hạnh và đồi bại, vinh quang và nhục nhã, tốt và xấu. Không đau đớn khổ sở và cũng không ân hận những gì đã qua, không sung sướng hớn hở và cũng không hãnh diện về những gì mình đã thực hiện thành tựu.
Ngó nhìn những quan điểm xung đột và những phát hiện sinh hoạt đa dạng của chúng sinh với lòng bình thản, khinh an và tâm thức siêu thoát. Phải hiểu rằng đời là thế và là thể điệu tác động không thể tránh được của mỗi một sinh thể. Hiểu như thế thì hãy luôn tỉnh thức, thanh thản trầm lặng. Ngó nhìn nhẹ nhàng xuống cuộc đời như một người đứng trên tột đỉnh núi cao nhất, nhìn ngó xuống những thung lũng và những ngọn núi nhỏ thấp trải ra dưới chân mình.”*****
Giữa muôn trùng cuộc lữ, trên con đường mây trắng bềnh bồng, gió trăng đồng vọng, rung ngân lên văng vẳng những cung đàn lã lướt dưới gót chân của chàng thi sĩ dị thường. Bước đăng trình vạn lý du, có đôi lúc cũng dừng gót chân lãng tử lại nghỉ ngơi một vài quán trọ dọc đường như giảng dạy triết lý, văn chương ở đại học Toulouse, nước Pháp hay thuyết trình Thiền tông, Mật tông ở các đại học, thiền viện trên khắp miền viễn xứ California và Hoa Kỳ.
Tiến sĩ Nhật Bản Nohira Munehiro khi làm luận án tốt nghiệp tiến sĩ, lấy đề tài về triết gia Phạm Công Thiện, cho biết các nhà học giả uyên thâm xứ hoa Anh Đào đều tôn vinh, ca tụng Phạm Công Thiện là Long Thọ của Việt Nam.
Từ năm 1966, mới 25 tuổi, Phạm Công Thiện đã nói về Long Thọ : “Theo Trung quán luận, thì sự nô lệ, sự phiền muộn, đau khổ, chấp trước…chỉ là vọng tưởng.
Chúng ta bám chặt vào sự vật, vào ý tưởng, vào con người, vào hoàn cảnh, vào nguyên nhân, vào kết quả, vào mục đích, vào cứu cánh,  vào phương tiện, vào sống


và chết : Chỉ vì vọng tưởng tạo ra những đặc tính và những hình ảnh mà chúng ta tưởng rằng có thực và bất di dịch…
Con người giải thoát làm việc thiện, cứu đời, độ thế, không phải để đạt đến kết quả nào ở đời này hay đời sau. Hành động của con người giải thoát là hành động không mục đích và không lý do. Lý tưởng Bồ tát thể hiện trong Đại bi là lòng thương không mục đích, vì còn mục đích là còn trói buộc vào nhân và quả. Trói buộc là nô
lệ, là chấp nhân hoặc chấp quả, chấp ngã hoặc chấp pháp, chấp hữu hoặc chấp không. Hố thẳm chính là phá chấp và phá chấp triệt để…”******
Tinh thần phá chấp triệt để ấy, thể hiện nhất quán qua toàn bộ tác phẩm Phạm Công Thiện từ thuở xưa cho đến bữa nay, nên các học giả Nhật Bản sánh Phạm Công Thiện với Long Thọ cũng là tương xứng, xác đáng. Đại văn hào Mỹ Henry Miller thì cho rằng, Phạm Công Thiện là hậu thân của Rimbaud, một thi sĩ tiên tri thấu thị của nước Pháp. Nhà thơ Giang Trần, nhà thơ Phan Tấn Hải bên Hoa Kỳ thì tôn vinh, tấn phong Phạm Công Thiện là bậc Bồ tát nghệ sĩ, còn riêng người viết bài này, đã từng hân hạnh được bắt tay, gặp mặt trò chuyện với Phạm Công Thiện ở Đại học Vạn Hạnh, vào một chiều mùa hạ năm 1969 thì vẫn xem Phạm Công Thiện là một thi nhân, một thi sĩ với trọn vẹn ý nghĩa của danh từ.
Chính Phạm Công Thiện cũng thường mặc nhiên tự nhận mình chỉ là nhà thơ, một thi sĩ thuần túy mà thôi : “Ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của thi sĩ, ai muốn hiểu sao đó thì cứ hiểu… Thơ là linh hồn của tất cả âm nhạc, hình ảnh của thơ là vô hình đột chuyển thành ra hiện hình và hiện ảnh : Hiện hình và hiện ảnh của thơ chính là hiện cảnh linh động, hiện thực hơn tất cả những cảnh sắc và phong cảnh hiện tiền… Thơ không nói về bất cứ cái gì cả, như vậy mới là tất cả. Thơ chỉ là thơ và thơ tự nói về thơ từ trong thơ đến trong thơ, cả cao và thấp, cả trong và ngoài, ở trên và dưới mặt đất, tất cả chỉ là thơ.”
Vâng, tất cả chỉ là thơ, khi thấy muôn sự muôn việc trên cõi đời này chỉ là thơ và thơ thôi thì lúc ấy mới bừng sáng rực ngời lên chân thực nghĩa vô lượng vô biên của Diệu Tâm thâm diệu, của Nhất Chân pháp giới, trùng trùng duyên khởi Hoa nghiêm, thấy tất cả mọi sự đều tốt đẹp và tốt đẹp. Vì thế, cho nên thi nhân vẫn tiếp tục hân hoan sáng tác, sáng tạo vô ngần bất tuyệt miên man :
Tháng ngày làm thơ chơi
Hồn bay thẳng ra khơi
Bạch phát ngút ngàn tới
Thu phong tắt nghẹn lời

Làm thơ lúc rửa chén
Nước chảy tuôn rỏn rẻn
Bột trắng sạch rêu đen
Bếp nhà rân tiếng én



Xin gọi đại là thơ
Làm lúc nào chẳng nhớ
Cho một cô gái nhỏ
Chưa từng gặp bao giờ

Muốn gì mà có ngay
Thì tai nạn vạ bay
Không thèm muốn gì nữa
Đời tràn ngập thơ hay
Khi thơ hay bay ngập tràn mặt đất trần gian, thì ngôn ngữ Việt Nam cũng bay về ngợp trời xanh bát ngát, làm trang nghiêm cho nụ cười thanh tịnh, quang minh tính thể. Thế là trên ngõ về im lặng, người thi sĩ kỳ tuyệt của chúng ta đã xuống tận hố thẳm cũng như đã lên tột đỉnh cao chất ngất của tâm linh và chợt bừng ngộ thấy ra toàn thể trò đời chỉ là một cuộc đại hòa điệu chơi tối thượng, một trận du hý tam muội lồng lộng, phiêu bồng.
Sống là chơi, chết là chơi, yêu là chơi, thương là chơi, vui buồn, sướng khổ là chơi, có không, còn mất là chơi, hơn thua, phải trái là chơi, thành cộng, thất bại là chơi, chiêm bao, mộng mị là chơi, tỉnh thức, thực tế, thực tại là chơi, phiêu bạt giang hồ khắp thế giới là chơi, giảng dạy triết lý, thi ca, thiền học là chơi, biết nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Hán, Phạn, Pali… là chơi, thương yêu năm nàng tiên nữ là chơi, làm đại đức, thiền sư Nguyên Tánh là chơi, làm hành giả Mật tông là chơi, làm văn nghệ sĩ là chơi, làm thơ làm thẩn cũng là chơi chơi hết thảy mà thôi. Ơi chao ! Một cuộc đại hòa điệu chơi trùng trùng vô thủy vô chung giữa mênh mông vô tận, bất khả tư nghì…Án ma ni bát di hồng. Án ma ni bát di hồng. Án ma ni bát di hồng…

 TÂM NHIÊN
__________________

Thơ Phạm Công Thiện, trích trong 2 tác phẩm :
Ngày sinh của rắn. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966
Trên tất cả đỉnh cao là lặng im. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn,TP.HCM 2009
* Phạm Công Thiện. Trên tất cả đỉnh cao là lặng im. Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, TP.HCM 2009
** Phạm Công Thiện. Ý thức mới trong văn nghệ và triết gọc. Tái bản lần thứ ba. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966
*** Phạm Công Thiện. Henry Miller. Nhà xuất bản Phạm Hoàng, Sài Gòn 1969
**** Phạm Công Thiện. Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất. Nhà xuất bản Trần Thi, California 1988
***** Phạm Công Thiện. Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng. Nhà xuất bản Phương Đông, TP.HCM 2008
****** Phạm Công Thiện. Hố thẳm tư tưởng. Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn 1966

DỊCH GIẢ ĐOÀN TỬ HUYẾN: HÃY CHO TÔI 01KM ĐƯỜNG ĐỂ LÀM SÁCH

Bảo văn hóa đọc xuống cấp là không đúng. Đã là văn hóa thì không có xuống cấp! Chỉ có những việc làm, những thái độ chống lại văn hóa đọc. Ở đây tôi muốn dẫn lời J. Brodsky, giải Nobel năm 1987, nói về những tội ác chống văn học, suy ra là chống văn hóa đọc:

 “… Trong số những tội ác này, tội nặng nhất lại không phải là những cấm đoán của kiểm duyệt và những điều tương tự, không phải là đốt sách. Có một tội ác nặng hơn nhiều - đó là coi thường sách, không đọc sách. Vì tội ác đó con người trả giá bằng cả cuộc đời mình; còn nếu một dân tộc mắc phải tội ác đó thì phải trả giá bằng lịch sử của mình” và: “… tôi không nghi ngờ rằng nếu chúng ta lựa chọn những người cầm quyền dựa trên cơ sở kinh nghiệm đọc của họ chứ không phải trên cơ sở các chương trình chính trị, thì trên trái đất sẽ ít đau khổ hơn nhiều” (Diễn từ Nobel).

Để dân tộc không mắc tội ác đó, cần tạo điều kiện cho văn hóa đọc tồn tại và phát triển. Muốn thế, phải có sách tốt. Phải có vai trò của nhà nước, trực tiếp là ngành xuất bản và thư viện tổ chức nhân bản sách có giá trị đưa đến tay người đọc. Chưa nói đến việc sáng tạo mới, trong “kho” của ta còn nhiều giá trị cần được in, in lại. Nhiều tư liệu Hán Nôm, sách của Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh…. chưa được tiếp cận rộng rãi, hệ thống… Như trước tác của Cao Xuân Dục, nhiều năm hậu duệ của cụ là các ông Cao Xuân Phổ, Cao Xuân Trứ chạy vạy, hợp tác với Phương Nam in năm tập thì dừng, rồi với tôi thêm dăm tập nữa cũng cạn khả năng tài chính... Ở đây có thể kêu gọi xã hội hóa; nhiều cá nhân, tổ chức như chúng tôi sẵn sàng tham gia, nhưng không có nguồn lực, điều kiện. Phải là nhà nước, người giữ tiền thuế của dân, người bỏ hàng nghìn tỉ cho các dự án lãng phí...
Tôi từng nói rằng, cho tôi 01 km đường tôi sẽ làm được nhiều km sách. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, mỗi km đường cao tốc Việt Nam ngốn 17,2 triệu, có nơi đến 28,2 triệu USD. Mỗi cuốn sách 1000 trang giá thành cao là 100.000đ, vậy giá mỗi km đường cao tốc bằng 250 km sách xếp gáy đứng kề nhau!
ĐOÀN TỬ HUYẾN

NHÀ VĂN PHÙNG VĂN KHAI LÊN TIẾNG VÌ BỊ MẠO DANH

 
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2013.

Buổi sáng nay, vừa đi công tác các đơn vị Quân đội phía Bắc về thì bè bạn thông tin cho tôi rằng tôi đã có một ý kiến trên trang báo mạng Hợp GiaoMarch 4, 2013 at 8:29 AM về Giải thưởng Hội Nhà văn, nhất là về hai nhà văn Nhật Tuấn và Nguyễn Thị Thu Huệ. Ý kiến này đã được một số báo mạng và blog cá nhân phát tán. (Xin không được nêu ra đây vì tôn trọng bạn đọc).

Tôi đọc đi đọc lại và xin khẳng định đây không phải ý kiến của tôi mà là một sự mạo danh rất đáng xấu hổ. Tôi định chưa trả lời ngay nhưng vì có liên quan đến cơ quan Văn nghệ Quân đội, nơi tôi đang công tác nên thấy mình cần phải có ý kiến lại để tránh sự hiểu lầm đáng tiếc tiếp theo.
Thứ nhất tôi chưa hề gặp nhà văn Nhật Tuấn, chưa hề đọc bài của anh viết về Thành phố đi vắng nên không thể có ý kiến gì. Tôi từng đọc Đi về nơi hoang dã  của nhà văn Nhật Tuấn và rất thích cuốn này. Chỉ bằng cuốn này tôi đã kính trọng tư cách nhà văn của anh.

Với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, tôi đã đọc một số tác phẩm của chị. Tôi thích một số truyện của chị từng đăng tải trên Văn nghệ Quân đội. Cách đây khoảng trên 10 năm, tôi có phỏng vấn chị cho một bộ phim tài liệu. Bây giờ khi gặp nhau, tôi vẫn luôn tới chào chị một cách bình thường.

Từ hai điểm trên, không thể nào tôi có ý kiến mà người nào đó đã mạo danh tôi như trên.
Nhân đây tôi chính thức có ý kiến, mọi trích dẫn tác phẩm, ý kiến phỏng vấn, phát biểu phải có sự đồng ý của tôi các báo mạng khi đưa lên mới có giá trị, tôi mới chịu trách nhiệm về nó. Điều này có thể các báo mạng sẽ không tuân theo nhưng cá nhân tôi tự đặt ra trách nhiệm như vậy để khi có những ý kiến mạo danh tôi một cách thiếu văn hóa, tôi sẽ tùy tình hình để ứng xử thỏa đáng.

Cũng nhân đây, tôi đề nghị các báo mạng, bolg cá nhân khi đưa những ý kiến có tính chửi bới, thóa mạ cá nhân, tập thể cần phải kiểm chứng, trao đổi với những người có ý kiến đó, đây phải được coi như văn hóa tối thiểu của mỗi tờ báo, mỗi trang bolg.
Tôi cũng mong muốn các văn nghệ sĩ, độc giả yêu văn chương hãy ứng xử một cách điềm đạm và có văn hóa hơn, yêu thương nhau hơn, hãy dành thời gian cho những việc có ích hơn.

Trân trọng.

Phùng Văn Khai

Friday, April 5, 2013

BÁO NGHỆ THUẬT MỚI LẠI RA MẮT (BỘ MỚI) TỪ SỐ 15

Kính thưa bạn đọc,

Kính thưa các văn nghệ sỹ,
Theo thông báo của Ban biên tập Nghệ Thuật Mới, phụ trương ra hàng tháng của báo Người Hà Nội, NTM sẽ tạm đình bản bắt đầu từ tháng 4 năm 2013.
Nhưng sau khi bàn bạc kỹ lưỡng, Ban biên tập báo Người Hà Nội quyết định duy trì phụ trương NTM và coi đây là bộ mới của NTM.
Nhóm tổ chức và thực hiện NTM từ số 1 đến số 14 do nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phụ trách không thể tiếp tục công việc của mình vì thời gian không cho phép.
Vì vậy, Ban biên tập báo Người Hà Nội tiếp tục cho ra mắt NTM với nội dung có những thay đổi bắt đầu từ NTM số 15.
Ban biên tập báo Người Hà Nội xin thông báo tới bạn đọc và các văn nghệ sỹ và mong nhận được sự ủng hộ của quí vị đối với NTM bộ mới.
Xin chân thành cám ơn.
Ban biên tập
Báo Người Hà Nội

Wednesday, April 3, 2013

NHÀ VĂN NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: BÁO VĂN NGHỆ VÀ HỘI NHÀ VĂN TỔ CHỨC MỘT BỮA CƠM VĂN NGHỆ KIỂU SÂN KHO HỢP TÁC

Mới đây tôi  có đọc bài “Phê bình tấu hài trên báo Văn Nghệ” của Trần Mạnh Hảo, trước hết tôi cám ơn ông về sự tổng lược thông tin và một số ý kiến xác đáng của ông. Về việc đó, chúng ta thấy, báo Văn Nghệ cũng như Hội Nhà Văn đã tổ chức một bữa cơm văn nghệ đúng kiểu sân kho hợp tác, ra quân đồng loạt viết bài tập thể kiểu cơm tập đoàn. Trước hết là một loạt các người ẵm giải thơ được lên sân rồng bao cấp của trung ương, một khi phủ chủ tịch tiếp tổng thống nước ngoài, ông đại sứ hay cụ già quê mùa thì tất cả đều có nghĩa là đã được vào sân rồng để vua biết mặt chúa biết tên.

PHÊ BÌNH BAO CẤP: ẴM LẤY ĐƯỢC VÀ HÊ CHO XONG
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC
Mới đây tôi  có đọc bài “Phê bình tấu hài trên báo Văn Nghệ” của Trần Mạnh Hảo, trước hết tôi cám ơn ông về sự tổng lược thông tin và một số ý kiến xác đáng của ông. Về việc đó, chúng ta thấy, báo Văn Nghệ cũng như Hội Nhà Văn đã tổ chức một bữa cơm văn nghệ đúng kiểu sân kho hợp tác, ra quân đồng loạt viết bài tập thể kiểu cơm tập đoàn. Trước hết là một loạt các người ẵm giải thơ được lên sân rồng bao cấp của trung ương, một khi phủ chủ tịch tiếp tổng thống nước ngoài, ông đại sứ hay cụ già quê mùa thì tất cả đều có nghĩa là đã được vào sân rồng để vua biết mặt chúa biết tên.
Nhưng có một điều khác, triết gia Hegel nói thế này: trong lâu đài có cả ông chủ lẫn đầy tớ, vậy thì làm sao phân biệt cái sang của chủ và cái kém cỏi của đầy tớ? Trả lời: ông chủ là người tự do sử dụng lâu đài. Còn đầy tớ là kẻ không thể sử dụng lâu đài theo ý mình. Tài xế và ông chủ đi cùng một chiếc xe sang trọng cũng vậy, ông chủ khác ở chỗ muốn đi chỗ này hay rẽ chỗ kia thì đều được, còn tài xế không thể sử dụng xe theo ý mình.
Báo Văn Nghệ xứng đáng là sân rồng trung ương, nhưng vào tay mấy anh tiểu nông thì chỉ thành cái sân gạch phơi sắn phơi ngô, bao nhiêu năm vẫn chỉ loay hoay phơi rinh rích toàn thơ lè tè cảm tính, tư tưởng cô lại chắc không đủ đầy hai bàn tay, đến như đại ca Thanh Thảo đúc rút cả đời tinh hoa vẫn chỉ là Trường ca chân đất, rồi Trần Quang Quí với “Mầu tự do của đất”, nghĩa là thứ tự do không có được hơi thở của giấc ngủ thụ động lười nhác mà chỉ là mầu đất người ta muốn vứt lên đó cái gì cũng được.
Trong bài này, tôi sẽ cố tình không nhắc đến tên những người viết, bởi tôi chỉ coi họ cũng như phần lớn HNV là những cán bộ quản lý học đòi viết văn bằng cảm xúc mà chưa hề có độ chuyên nghiệp của mỹ học hay lao động nghệ thuật. Đây không phải câu nói xấu vu vơ hàm hồ mà căn cứ trên toàn thể những gì thực chứng. Ở đời, người ta xem quả biết cây, những cán bộ này đã ra quả gì ngoài mấy bài thơ sinh hoạt? Xem chim thấy cánh, xem cá thấy vây, xem cái u của con lạc đà biết nó là loài vượt sa mạc. Trong văn học khi đọc Iliad và Odyssey người ta thấy thế giới thần thần thánh ngự trên đỉnh Ô-lanh-pơ, nhìn Icar gắn cánh bằng sáp bay người ta thấy khát vọng đòi siêu việt của con người. Vậy thì nhìn đại ca bác Năm Trì gãi háng, “sau lưng có một vài thằng con con” ca tụng, thử hỏi ta có hiểu họ là ai với tầm vóc thế nào?!
Có một phương ngôn bất khả cưỡng rằng: “Người nào nhận biết lẽ công chính thì mới là thước đo vạn vật”. Anh phải là thước thì anh đo dù cái gì ngắn dài cũng theo thước, còn nếu anh đo áng chừng bằng gang tay, rồi “cong ăn cong, thẳng ăn thẳng”, mang đậm tuy duy tiểu nông “phép vua thua lệ làng”, cứ ai là cánh hẩu của mình một gang đo thành một đòn gánh, còn ai không thuộc đồng hương của mình dài vài mét cũng chỉ là đầu ngón tay, rồi đem cái áng chừng văn học bụng đó đòi hẩy vàng ra, đem khoai sẵn phơi sẵn trong sân vào ẵm giải, rồi nói dù đây là khoai sắn những mang dòng máu quê hương – đất mẹ quê nhà ấm êm dịu ngọt yêu thương. Tất nhiên cái hương vị quê nhà đó cũng là quê mùa “dân gian” như người Việt đã từng bóc mẽ vui vẻ “đã dân thì gian”. Nhớ lại, việc Thanh Thảo, Phạm Đương, Văn Chinh cậy nhờ vào một comment không dấu, không tên, không rõ ràng mạch lạc, với trí tuệ không phân biệt nổi hai cái tên khác nhau định ù xọe ngụy biện, đủ thấy trí tuệ của mấy ông nghèo nàn rớt mồng tơi đến thế nào! Hôm nay tôi muốn phân tích cụ thể vào thơ của TT và PĐ, dựa trên những tiêu chí rõ ràng nhất:
1- Về Trường ca chân đất của Thanh Thảo, với đoạn được NCH trích dẫn, tôi xin trước hết bàn vào từng câu một:
                         bác Năm Trì tàng tàng tàng
“bác Năm Trì” là một đại từ ngôi thứ ba số ít, không có gì lạ, như cô Lý, cô Xoan,, hay bà Lý Toét. Ba chữ “tàng tàng tàng” có nâng cấp một tẹo gợi cho người ta nhịp điệu kiểu nói lặp từ hay ca khúc.
                         bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
Câu này chẳng có gì lạ, là thông tin cấp một như kiểu ông Tổng Phệ hay bà Lý Toét quê Nam Định
                         đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
“đêm láng lênh”, coi như được tính điểm vì khác cách nói thường. Còn “bác ngồi gãi háng” thì đó là xú học, thua hẳn câu của Thanh Tre “đêm âm u, nàng ngồi soi mu”. Chữ “gãi” chỉ là bản năng của những con vật, nhưng chữ “soi” là bản nhãn của trí tuệ và bắt đầu mở màn cho nghiên cứu cơ thể học.
                         trăng hạ tuần
Trạng từ chỉ thời gian bình thường
                         nhớ lung mung
Có một tí sáng tạo ở đây từ chữ thường dùng “lung tung” chuyển sang “lung mung”.
                         hình như tổ tiên mình có cái chén mẻ
                         gửi đâu đó bên dưới đế tháp Chàm
                         những ngọn tháp chỉ còn trong ký ức
Ba câu cuối là một sự nghèo nàn tuyệt đối, tổ tiên có cái bát mẻ mà cũng chỉ là nghi vấn “hình như”, được chôn dưới tháp Chàm nhưng lại chỉ còn trong ký ức. Nghĩa là người ta nghèo nàn đến mức cái bát mẻ không có mà ăn, giờ dấu tích khoe khoang nó chỉ là bốc phét vì chẳng còn bằng chứng nào. Tại sao Thanh Thảo lại nghèo nàn đến thế? Không phải dại đâu! Đó chính là cái võ mậu dịch thường trực đấy. Trước đây, trong cơ quan, thường có châm ngôn “mặt trình bày hoàn cảnh”. Nghĩa là trong chế độ xin cho, người ta luôn thường trực một bộ mặt rầu rĩ trình bày hoàn cảnh, rằng gia đình tôi khó khăn lắm mẹ già con thơ cho tôi xin trợ cấp thêm hoặc vài ngày phép. Mở rộng ra, đám ăn mày kiểu “Cái Bang”, muốn ăn xin thì phải xé áo tả tơi, lăn lê cát bụi thì mới xin được chứ. Mở rộng hơn, đám gái điếm trong các thanh lâu bao giờ cũng có trích ngang trình bày hoàn cảnh, nào bố em mất, mẹ em yếu, thế là em cực chẳng đã phải “mồm muốn ăn sáng thì háng phải ăn sương” (chữ háng ở đây hay hơn chữ háng của Thanh Thảo 100 lần, vì đó là cái háng có mục đích và đang được đem ra biện hộ), rồi nàng quay đi giấu một nụ cười khi thấy hiệp sĩ đã sờ tay vào ví. Thanh Thảo cũng không thể là ngoại lệ khi muốn dở bài “khổ nhục kế” để xin-cho. Nào hãy cho tôi được giải, cho tôi giữ ghế, cho tôi được trì hoãn về hưu, thơ là người mà, hãy đọc thơ để hiểu tôi và quê hương tôi. Thanh Thảo sẽ còn có cơ hội với cả dân xứ Quảng. Ơ kìa xứ Quảng ơi, có phải tôi đã có đề từ là tặng dân xứ Quảng, rồi bên trong tôi đã cố gán ghép một nhân vật không có hành động là bác Năm Trì quê Quảng Ngãi, có phải vậy là tôi đã trình bày hoàn cảnh cho cả xứ ta không? Mọi người không xin thì ai biết đường mà cho!
Đây cũng là thứ trí khôn cán bộ “sáng cắp ô đi tối cắp ô về”, rồi cấu bè kết phái thì thầm nhỏ to cũng chỉ có bấy nhiêu thứ, ghế, giải, vào sân rồng phơi thơ khoai sắn, đánh chặn không cho đứa khác vào. Vào càng ít càng tốt! Càng đỡ lo! Vì thế mà mới có cảnh chỉ thấy thơ văn của mấy ông bà già nán lại không chịu về hưu! Mà cũng lấy làm đắc chí ta khôn ngoan. Đúng là cách tiểu nông đắc chí!
2- Về tập thơ “Giờ thứ 25” của Phạm Đương
Napoleon nói “Quá bao dung với tội lỗi là đồng tình với nó”. Nhưng đây không phải là bao dung nữa, mà sự làm ngơ, thậm chí ca tụng sản phẩm ăn cắp sờ sờ và giành giành. Một thiên thạch rơi xuống đồng quê, ta không thể cho rằng thiên thạch đó do đất đồi tạo ra. Một con chíp siêu điện tử lạc vào rổ rau của người trồng rau ta không thể nghĩ rằng, người trồng rau đó sản xuất ra con chíp điện tử. Cái tư duy đầu đường của Phạm Đương coi “Đếch” là ngọc tung vào thơ, ta không thể mặc định cho rằng “giờ thứ 25” là của Phạm Đương. Người đời đã dạy, “y phục xứng kỳ đức” hoặc “đóng gói phải hợp với bao bì”, cái bao bì kỳ vĩ như vậy sao có thể mặc nhiên đóng gói cho mấy câu thơ lẩm cẩm của PĐ?
Một kẻ ăn cắp thường không thấy kẻ ăn cắp là phạm tội! Một kẻ muốn bao dung cho kẻ cắp là vì hắn muốn “dễ người dễ ta”, đến khi tôi bị phát hiện ra là ăn cắp mong mọi người miễn thứ cho. Tôi đề nghị từ nay ai muốn khen thơ của PĐ thì tùy, nhưng trước khi đó phải trả lại tên gọi cho chính chủ, còn sau đó các vị muốn ca tụng thế nào cũng được.
Có một câu chuyện  Tiếu Lâm thế này. Anh chàng kia đần độn lắm, nhưng nó lú có chú nó khôn, ông chú nó bảo: “yên tâm tao sẽ cho mày lấy vợ quan”. Ông ta liền đi bắt mối cho cháu mình với nhà quan.
Quan bảo: – Thằng cháu ông đần thế làm sao đòi lấy cành vàng lá ngọc nhà tôi?
Ông chú:- Đần thế nào, bề ngoài nó thế nhưng cái gì cũng biết đấy, thông kim bác cổ.
Quan: – Thế thì ông phải để tôi thử!
Chú: -Xin mời!
Ông chú về dặn cháu, “mày đến nhà lão quan, chỉ nói đúng một chữ rồi về”. Anh đần đến nhà quan. Quan dẫn lại bàn thờ, chỉ bức hoành phi, chữ nghĩa thì anh biết gì bèn đứng đần mặt ra, quan giục, nhớ lời chú chỉ nói một câu anh liền văng “Con cặc!” rồi bỏ về.
Quan tức lắm liền tìm gặp ông chú: – Ông bảo nó thông thái mà đứng trước bàn thờ nhà tôi nó văng “con cặc” ra, như vậy có đốn mạt không?
Chú vỗ đùi: – Trời ơi sao thằng cháu tôi lại khôn và thâm thúy đến vậy!
Quan: – Khôn chỗ nào?
Chú: – Đứng trước bàn thờ nhà ông, tức là đứng trước tổ tông, nối dõi tông đường. Để làm việc đó phi con cặc ra thì ai làm được!
Quan: – Ừ nhỉ, cháu ông giỏi quá! Tôi sẽ gả con gái liền.
Phê bình tán là vậy, tán xuôi tán ngược người có ít chữ thì đều có thể tán, chính thế mà người Trung Quốc dạy, hãy đề phòng kẻ trí, có trí thì hay trá. Đặc biệt mấy anh cán bộ tiểu nông khôn vặt rất hay giở võ ma lanh trí trá. Giờ chúng ta thử nghĩ về một kịch bản hoàn toàn có thẻ xảy ra.
-         Các anh năm nay vào đợt xét giải đấy!
-         Phải thế chứ! Chẳng lẽ giải của các ông chỉ loanh quanh Vĩnh Phú, quân đội, rồi Sơn Tây, Hà Tây mãi sao?
-         Anh nói thế không được, năm trước chúng tôi chẳng trao cho một đàn bà con gái ở tận miền Trung sao?
-         Đàn bà là một cơ số khác, thiếu gì thằng đàn ông đã cho đàn bà ăn giải chỉ vì đã ăn vốn tự có của nó! Ông có muốn tôi kể tên ra không, kể luôn cả tên thằng làm thơ hộ nó…
-         Thôi, thôi… thì anh được sắp ẵm giải lần này rồi còn gì nữa! Sống nên biết điều, mình ăn thì cũng phải có chỗ cho người khác ăn.
-         Chúng tôi có mấy xuất?
-         Hai xuất được chưa?
-         Tôi và ai?
-         Đệ tử ruột của anh luôn!
-         Tôi sợ thằng ấy thơ hơi kém! Cái tên tập thơ ấy nó lại ăn cắp của người khác!
-         Ôi dào nước ta ai người ta bắt bẻ việc đạo văn, lại chỉ có mỗi một đầu đề.
-         Bạn đọc đã vậy, nhưng ban giám khảo thì sao?
-         Ban giám khảo mình thì cũng toàn là nông-binh, như anh và tôi vậy, toàn đọc tập thơ mỏng như kiến, có mấy khi đọc sách có gáy mà biết được.
-         Ừ nhỉ! Nhưng thơ thằng này mới học đòi cũng dở lắm!
-         Anh trao giải hay tôi? Anh cứ bảo nó gửi thơ lên. Lên chức được, thành tích được là do báo cáo chứ đâu phải việc làm. Anh cứ bảo nó gửi lên, tôi sẽ sai mấy đứa long tong bình cho ra cái hay thì thôi. Anh biết chuyện bình “con cặc” chưa?
-         Chưa!
-         Đấy cái chuyện người ta vẫn kể đó, con cặc còn bình ra tổ tiên nữa là cái khác!
-         Nhưng thơ của tôi và thằng này có cả cứt và đếch?
-         Không sao, khoai sắn phơi ở đây mà chúng tôi còn tán đó là rượu nút lá chuối của tổ tiên đang lên hương thì ngại gì cứt và đếch?!
…
Bài đã dài, để gạn đục khơi trong não trạng cán bộ nhạt nhẽo của văn học mậu dịch thì còn rất dài. Hẹn bà con một dịp rất gần đây, sau khi tôi đã xả hơi chút đỉnh. Cám ơn nhiều!
16/03/2013
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC