.thongtin img{width:24px;height:18px;margin:5px 5px -5px 0} .thongtin li{margin:10px 0 20px}

Saturday, May 5, 2012

THƠ – BÍ MẬT SỰ SÁNG TẠO VÀ CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN NHO SA MẠC

Nguyễn Nho Sa Mạc tên thật là Nguyễn Nho Bửu, còn có bút hiệu: Nguyễn Thị Liên Phượng. Sinh năm 1944 tại La Qua, Điện Bàn, Quảng Nam. Mất vào 23 tháng Chạp năm 1964 tại bệnh viện Đà Nẵng. Thơ Nguyễn Nho Sa Mạc từ những năm 1960 đã đăng trên các tạp chí: Bách Khoa, Văn học, Mai, Văn... (Sài Gòn). Gần nửa thế kỷ đã qua, kể từ ngày thi sĩ qua đời, năm 2007 vừa qua, tập thơ “Vàng lạnh” của Nguyễn Nho Sa Mạc mới được sưu tầm, tập hợp và xuất bản.

Sẽ khó mà luận lý ra cái tố chất thường được gọi là bẩm sinh của mỗi thi sĩ, dường như đấy cũng là lý do vô tận, luôn là một thực tại thách thức vượt qua mọi khả nghiệm. Sức sáng tạo kỳ lạ ở mỗi thi sĩ hàm chứa những tố chất bí mật cũng chính là sức sống của mỗi cuộc đời thơ, mà nếu như trống vắng hoặc mất đi cái năng lực nhiệm mầu đó, cũng tức là thi sĩ sẽ không còn tồn tại, cho dù trí tuệ có vùng vẫy gắng sức tạo dựng nên những đền đài kiểu sức mang đủ các tên gọi mới mẻ. Một cuộc đời thơ có thể là dằng dặc suốt một hành trình với đồ sộ những tác phẩm, nhưng cũng có thể là khoảnh khắc, là tia chớp, là ánh sao bay xẹt ngang qua bầu trời rồi vụt tắt. Ở trường hợp sau, ví như một Phạm Hầu, một Nguyễn Nhược Pháp chẳng hạn. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã tạc nên một hình ảnh Phạm Hầu thi sĩ tưởng không ai khéo bằng: “Ở giữa đời, Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường”. Nhưng tôi muốn nói về một thi sĩ khác, thuộc thế hệ sau xa cái con người mong manh “Chân đi không để dấu trên đường” kia. Vâng, người ấy là Nguyễn Nho Sa Mạc.

Họ có cùng quê hương trên cái xứ sở đã chưng cất nên “rượu hồng đào” huyền thoại, cùng uống chung nguồn nước Thu Bồn, chỉ có điều năm Phạm Hầu mất lại là năm Nguyễn Nho Sa Mạc sinh ra đời (1944). Một mãn cuộc, một sinh khai. Ngẫu nhiên thôi nhưng kẻ trước người sau đều là những ánh sao bay xẹt qua bầu trời mang theo cả sự bí ẩn về cái chết.

Không được bề thế như thi sĩ Phạm Hầu, sáng danh trong “Thi nhân Việt Nam” và còn là một họa sĩ xuất thân từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từng có tranh đạt giải nhất trong triển lãm Tokyo (Nhật Bản) năm 1940, Nguyễn Nho Sa Mạc thuộc lớp những nhà thơ đất Quảng xuất hiện sau này, vào quãng những năm 1960-1964. Anh đột ngột qua đời vào một đêm tháng Chạp, cận Tết, lúc tuổi đương độ hai mươi, dang dở một sự nghiệp thơ đầy hứa hẹn. Trong thơ anh, một linh cảm, một dự báo hay là từ cái tố chất bí mật nhiệm mầu của thi sĩ mà Nguyễn Nho Sa Mạc đã nhìn ra đến chính xác cái số phận mong manh mệnh yểu của mình.

Tôi gọi nhỏ tên mình sa nước mắt
Ở trên đời vừa đúng hai mươi năm
Máu đã khô, xin tim này đừng rụng
Giữa hư vô phần mộ nhỏ yên nằm

Đọc lên những câu thơ buồn như thế, có thể có người vì chưa tiếp cận cuộc đời thi sĩ nên cho đấy là nỗi ám ảnh của sự tuyệt vọng, một thứ “thú đau thương”, hay là vì lẽ một căn bệnh vô phương chạy chữa nên ám ảnh đến cái chết. Lịch sử thơ ca cũng đã từng có những nỗi tuyệt vọng, những hoan lạc với khổ đau của thi sĩ mà sinh nở những câu thơ, những bài thơ mang âm hưởng “linh cảm, tiên tri”. Ví như trường hợp Phạm Hầu: “Hay đời hỏi thịt êm và tủy sống. Tôi xin nằm yên ổn cả hai tay. Trong đày ải mình trần tê ngọn lửa. Tiệc chim bằng rỉa rói một lòng đơn”. Theo “Việt Nam Thi nhân Tiền chiến” (NXB Văn học 1996), Nguyễn Tấn Long (tác giả) cho rằng: “Quả đúng như lời thi nhân cam chịu (số phận). Hoàn cảnh thi bản trên đây, thì một năm sau thi nhân đã từ giã cõi đời...”. Có thể dẫn ra thêm nhiều trường hợp nữa, nhưng hầu như khi tiếp cận cái thể trạng thơ ấy, nhãn quan ta thường mơ hồ liên tưởng, ứng vào từng hoàn cảnh cụ thể mà suy diễn. Trường hợp Nguyễn Nho Sa Mạc không mơ hồ như vậy, mà quả là sự “tiên tri” chính xác ứng đúng vào vận hạn đời anh: “Ở trên đời vừa đúng hai mươi năm”.

Nhà thơ Luân Hoán - người bạn đồng thời thân thiết với Nguyễn Nho Sa Mạc kể lại, xin được tóm tắt như sau: “Vào một buổi chiều tháng Chạp(1964), chúng tôi (Nguyễn Nho Sa Mạc, Luân Hoán, Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa) đang lang thang ở chợ Vườn Hoa (Đà Nẵng) thì Nguyễn Nho Sa Mạc chia tay với lý do, chuẩn bị tham dự buổi liên hoan cuối năm của trường Phan Châu Trinh (lúc này Nguyễn Nho Sa Mạc đang học lớp đệ Nhất C tại đây). Chia tay với anh, tôi cảm thấy bứt rứt không yên... Dẫu vậy, ham vui, tôi vẫn tiếp tục lang thang cùng Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa. Đêm hôm đó cả ba chúng tôi đi dạo rất nhiều nơi... cùng về ngủ tại nhà Hà Nguyên Thạch... Mờ sáng hôm sau, thì Châu Văn Tùng (bạn của cả nhóm) vội vã đến cho chúng tôi biết, Nguyễn Nho Sa Mạc đang nằm trong bệnh viện với tình trạng nguy kịch. Chúng tôi vội vã vào thăm anh... Nguyễn Nho Sa Mạc ra đi trước khi chúng tôi đến nơi. Thi thể của anh được chuyển xuống nhà xác... Cái chết của Bửu (tên thật nhà thơ) được ghi trong hồ sơ vắn tắt : Mê man, chết. Không nêu ra một căn bệnh nào, một lý do cụ thể nào, như trúng độc chẳng hạn...”. Ghi lại lời kể của Luân Hoán, để hiểu thêm về điều mà tôi viết ở phần đầu: kẻ trước người sau đều là những ánh sao bay xẹt qua bầu trời mang theo cả sự bí ẩn của cái chết. (Riêng phần Phạm Hầu xin tìm đọc “Vẫy ngoài vô tận” NXB Thanh niên 2001). Vẫn theo lời kể của Luân Hoán, sau ngày Nguyễn Nho Sa Mạc qua đời, tạp chí Bách Khoa đã dành nhiều trang đặc biệt đăng thơ của anh, cùng một số bài tưởng niệm của Thành Tôn và Luân Hoán.

Sớm trình làng thơ mình trên các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Văn học, Mai...( đang lúc tuổi học trò, thế nhưng trái tim thi sĩ Nguyễn Nho Sa Mạc chừng như vượt qua khỏi cái thế giới “mắt sáng với môi hồng”, mà trĩu nặng nỗi buồn, những niềm ưu tư khắc khoải: “Xòe bàn tay vốc lên từng hạt cát. Bỗng vô cùng đau xót ở trong tim. Người lặng lẽ một mình trong sa mạc. Như một mình trong tiền sử buồn tênh” (Tự thuật). Hẳn từ ý niệm đó mà thi sĩ hình thành cái bút danh Nguyễn Nho Sa Mạc như một độc thoại thường hằng với thân phận, một hành trình thấm đẫm sự cô đơn. Mỗi một thi sĩ sinh ra ở đời đều mang một tố chất, một tạng thơ riêng (chưa nói đến tư tưởng, thi pháp, kinh nghiệm can dự vào), nó như cung bậc định mệnh đeo bám một cuộc đời thơ, mà nếu đánh mất, anh sẽ trở thành một kẻ khác.

Bằng đôi tay ôm kín nỗi buồn
Ta đi trong trời đất hoàng hôn
Mà nghe sữa mẹ chan hòa chảy
Máu ở buồng tim cũng loạn cuồng
...
Sông hỡi là sông! Rừng hỡi rừng
Trăng lên từ thuở có mùa xuân
Rủ mây nguyên thuỷ về sinh nhật
Ta uống cùng em chén rượu mừng
...
Bằng đôi tay ôm kín mặt trời
Ta và em một khối sinh đôi
Hỡi ơi khi ở trong lòng mẹ
Ta muốn đi cho trọn kiếp người.
 (Sinh Nhật )

Đọc thơ ấy, tôi lại liên tưởng đến thơ Chế Lan Viên ở vào cái thời ông “Tôi tiếp cận trang giấy ngày mười sáu tuổi” (Hồi ký bên trang viết). Tươi rói hoa niên vậy mà thơ như kẻ tóc bạc: “Mùa thu rớm máu rơi từng chút. Trong lá bàng thu đỏ ngập trời. Đường về thu trước xa lắm lắm. Mà kẻ đi về chỉ một tôi”. Hãy nghe Hoài Thanh nhận định thơ ấy: “Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” (Thi nhân Việt Nam). Một cách nhìn như thế hẳn không phải vì cuồng tín mà thành ra mắc tội phiếm thần (panthéisme), xem cái gì cũng thần linh, mà chính là cách diễn đạt về vô tận, về siêu việt. Sự liên tưởng của tôi cũng hoàn toàn không phải vay mượn ánh sáng của người này để hòng nhuộm lên kẻ khác, mà là cách quang chiếu để đi tìm cái khả năng “con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội” (Bùi Giáng) ở nơi một thi sĩ.

Vậy rồi một ngày bất chợt, con chim ấy sớm từ biệt bầu trời, con cá ấy sớm từ biệt biển khơi, Nguyễn Nho Sa Mạc “Ở trên đời vừa đúng hai mươi năm”, để lại sự nghiệp thơ vừa phát lộ đã sớm dang dở. Nhưng thi sĩ tồn tại ở giữa đời là sự tồn tại của tác phẩm, dù ít ỏi, chưa nhiều, Nguyễn Nho Sa Mạc cũng đã thắp lên cho mình một ánh lửa lấp lánh trong nền thơ đất Quảng, và rộng ra hơn là cả đất nước.

Gần nửa thế kỷ, kể từ ngày thi sĩ qua đời, mới đây những người bạn hoạt động văn học nghệ thuật đồng thời với anh hiện đang sinh sống xa xôi ở nước ngoài, đã tập hợp, sưu tầm, xuất bản tập thơ “Vàng lạnh” của Nguyễn Nho Sa Mạc. Với tôi, ngần ấy đã là tiếng vang ngân sâu lắng. Một thứ âm thanh gióng lên trên mặt bằng câm lặng của ngôn từ đã khiến ta có thể nghe ra tiếng nói của một phận đời, một số phận.

Muốn nghe được âm thanh bí nhiệm đó, nói theo triết lý nhà Phật, phải dùng cái Nhĩ căn viên thông để mà nghe. Thì còn gì nữa, Nguyễn Nho Sa Mạc từ thuở còn phôi thai trong lòng mẹ, thi sĩ đã nóí cho ta nghe ra rồi: “Hỡi ôi khi ở trong lòng mẹ. Ta muốn đi cho trọn kiếp người” !
NGUYỄN NHÃ TIÊN

No comments:

Post a Comment